4,7 ★ 3 người đánh giá. (nhacquehuong.net) - Tổng Hợp Hát Xẩm Đình Cương Những Bài Hát Xẩm Hay Nhất 2020. Tuyển Tập Các Bài Hát Xẩm Chọn Lọc Hay Nhất Như Hát Xẩm, Nhạc Cả Lương, Quan Họ Bắc Ninh, Hát Chầu Văn, Hát Chèo, Hát Xẩm MP3 Chọn Lọc Hay 2020. Tải về. pause.
Để tiến hành có hiệu quả một chiến lược lâu dài, bài bản cấp quốc gia nhằm giữ gìn, phát triển, quảng bá văn hóa Việt Nam, bên cạnh vai trò của Nhà nước, sự phối hợp chặt chẽ giữa các tổ chức, cá nhân thuộc nhiều thành phần, thì rất cần có sự nhập cuộc của những người trẻ.
Đó là đoạn mở đầu trong bài xẩm Ở nhà cách ly chống en-cô-vy do trung úy Phạm Quang Duy, nghệ sĩ Nhà hát Chèo Quân đội, vừa hát vừa chơi đàn nguyệt. Video này nhận được gần 40.000 lượt xem trên YouTube cá nhân của riêng anh và lượt chia sẻ rất lớn trên mạng xã hội .
GV nhận xét, dặn dò và ghi nhớ 12 Tuần : 8 Ngày soạn: Tiết: 8 Ngày giảng: Học Hát Bài: LÝ CÂY XANH (Dân Ca Nam Bộ) I. YÊU CẦU: - HS biết đây là bài hát dân ca Nam Bộ - Biết hát theo giai điệu. xanh là dân ca Nam Bộ, sau đó cho HS xem một vài tranh ảnh
Các con dế mèn suốt trong đêm khuya. Hát xẩm không tiền nên nghèo xác xơ. Đền công cho dế nỉ non. Trời cho sao chiếu ngàn muôn. Các con dế mèn suốt trong đêm khuya. Hát xẩm không tiền nên nghèo xác xơ. Sáng rơi xuống đời, sáng leo lên cây. Sáng mỏi chân rồi, sáng ngồi xuống
Xẩm là một loại hình dân ca của miền Bắc Việt Nam, phổ biến ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ. "Xẩm" cũng còn được dùng để gọi những người hát xẩm - thường là người khiếm thị đi hát rong kiếm sống và do đó hát xẩm còn có thể coi là một nghề.
Vay Tiền Nhanh Chỉ Cần Cmnd Nợ Xấu. GIỚI THIỆU VỀ HÁT XẨM Trong suốt quá trình hình thành và phát triển, hát Xẩm luôn có vai trò và tầm ảnh hưởng nhất định đối với nền âm nhạc Việt Nam nói riêng và nền văn hoá của Việt Nam nói chung. Được biết tới là hình thức hát rong phổ biến trong xã hội phong kiến trước đây, Xẩm không chỉ là phương tiện kiếm sống của người khiếm thị, mà còn là hoạt động giải trí của người nông dân lúc nông nhàn, là tiếng lòng của con người với cuộc sống cá nhân, với xã hội và đất nước. NGUỒN GỐC – LỊCH SỬ1. Nguồn gốc hình thànhXẩm, trong tâm thức của nhiều người thường gắn với những người nghệ sĩ mù nghèo khổ, nay đây mai đó, dong ruổi trên từng con phố với cây đàn của mình. Thế nhưng, huyền tích về cội nguồn của Xẩm lại không hề tầm gánh hát Xẩm xưa Ảnh Báo tin tứcTheo truyền thuyết, đời nhà Trần, vua cha Trần Thánh Tông có hai hoàng tử là Trần Quốc Toán và Trần Quốc Đĩnh. Do tranh giành quyền lực nên Trần Quốc Đĩnh bị Trần Quốc Toán hãm hại, chọc mù mắt rồi đem bỏ giữa rừng sâu. Tỉnh dậy, hai mắt mù lòa nên Trần Quốc Đĩnh chỉ biết than khóc rồi thiếp đi. Trong mơ bụt hiện ra dạy cho ông cách làm một cây đàn với dây đàn làm bằng dây rừng và gảy bằng que nứa. Tỉnh dậy, ông mò mẫm làm cây đàn và thật lạ kỳ, cây đàn vang lên những âm thanh rất hay khiến chim muông sà xuống nghe và mang hoa quả đến cho ông ăn. Sau đó, những người đi rừng nghe tiếng đàn đã tìm thấy và đưa ông về. Trần Quốc Đĩnh dạy đàn cho những người nghèo, người khiếm thị. Tiếng đồn về những khúc nhạc của ông lan đến tận hoàng cung, vua cho mời ông vào hát và nhận ra con mình. Trở lại đời sống cung đình, nhưng Trần Quốc Đĩnh vẫn tiếp tục mang tiếng đàn, lời ca dạy cho người dân để họ có nghề kiếm sống. Hát Xẩm đã ra đời từ đó và Trần Quốc Đĩnh được suy tôn là ông tổ nghề hát Xẩm nói riêng cũng như hát xướng dân gian Việt Nam nói chung. Người dân lấy ngày 22 tháng 2 và 22 tháng 8 âm lịch làm ngày giỗ của thực tế, quả thật vua Trần Thánh Tông có hai người con trai, nhưng không ai tên Quốc Toán, Quốc Đĩnh. Do vậy, nguồn gốc của hát Xẩm là dựa trên thánh tích chứ không truy ra được chính sử. Mặc dù chưa tìm thấy một văn bản viết nào xác định nguồn gốc của hát Xẩm nhưng từ hàng trăm năm nay người đời vẫn truyền miệng nhau câu chuyện của đời nhà Trần. Cũng từ đó, người ta cũng nhìn thấy rằng, dòng dõi cao quý, cùng những thanh âm kỳ diệu của Xẩm không chỉ đem lại ấn tượng sâu sắc cho vua mà còn bộc lộ tinh thần lạc quan của những người mù loà, sẵn sàng vượt lên nghịch cảnh để kiếm ăn bằng chính tài năng và sức lực của mình. Do vậy, tính hàn lâm trong ca từ và sự chặt chẽ trong luật thơ của các bài Xẩm xưa hiện hữu vô cùng rõ nét, dẫu rằng nó gắn liền với đời sống dân dã bình một số nghiên cứu cho rằng, nghệ thuật hát Xẩm là một phiên bản khác của hát Chèo bởi hai thể loại này đều mang dấu vết của loại hình “hát nói” – xuất hiện từ thuở sơ khai của dân tộc cổ đại. Tuy nhiên, cái độc đáo của Xẩm so với Chèo nằm ở chỗ nghệ sĩ Chèo được trải dài từ nông thôn đến thành thị, từ quý tộc đến nông dân. Trong khi đó, nghệ nhân hát Xẩm là những người mù loà, thường không được học đầy đủ từ bé, sau lấy nghề hát rong trên đường kiếm sống. Khác với Chèo, nơi mà con người cảm nhận thế giới xung quanh qua đôi mắt của chính mình, còn ở Xẩm người nghệ sĩ lắng nghe sự sống bằng chính đôi tai của mình. Mất đi lăng kính của mình nhưng bù lại, nghệ nhân hát Xẩm lại cảm nhận được từng âm sắc đầy phong phú, từng nhịp sống hối hả hay chậm rãi khác nhau của mỗi người. Từ đây, họ định hình thế giới theo cách riêng của họ và thổi hồn vào những câu hát bằng những nét tinh tế xuất phát từ chính tâm hồn. Hài hòa mà sâu lắng, da diết mà âm vang, Xẩm hội tụ đầy đủ các yếu tố để trở thành giai điệu khó quên dành cho mỗi thính giả, gửi gắm trong từng ca từ những dấu ấn khó phai từ một lăng kính khác Lịch sử hình thànhXa xưa, trên các bến đò quanh chợ, nơi đông người qua lại, không khó để ta bắt gặp hình ảnh bác Xẩm mù loà ngồi trên manh chiếu nát sờn, thổi hồn vào từng câu hát ngón đàn, làm vui lòng nhân gian cốt để đổi lấy đồng tiền bát gạo. Trong xã hội đặc thù thời bất giờ, Xẩm là người phổ biến lan truyền tốt nhất những câu ca dao tục ngữ qua những chuyện sinh hoạt, cất lên những oán thán cho sự bất công của xã hội và kể lại những câu chuyện với khát vọng về một cuộc sống đủ đầy, khát vọng thiện lương của nhân dân. Do vậy, trong một thời gian dài, Xẩm trở thành món ăn tinh thần của rất nhiều người. Cái hay của Xẩm còn ở chỗ, nó không chỉ phục vụ riêng cho một nhóm người nào, biểu diễn cũng rất linh hoạt ở bất cứ nơi đâu và hơn cả, là cốt cách những người nghệ sĩ không ủ vào tật nguyền để xin bố thí mà lo trau dồi lời ca tiếng hát của mình để kiếm vậy, Xẩm chỉ thật sự bùng nổ khi nó bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ. Xẩm lúc này không chỉ là những câu ca mua vui cho thính giả nữa, mà nó còn là một mắt xích vô cùng quan trọng trong việc tuyên truyền, vận động. Xẩm dùng chính sự thân thuộc với người dân của mình để gửi gắm ý chí, đề cao khát vọng dân tộc. Sau cách mạng tháng Tám, hát Xẩm tiếp tục được chính quyền sử dụng trong tuyên truyền phong trào bình dân học vụ. Trong các giai đoạn lịch sử mà hát Xẩm đi cùng, có lẽ hình ảnh khó quên nhất là Xẩm Minh Sơn Thanh Hoá đã ôm cây đàn Nhị đi khắp nơi trên mặt trận binh để đem những lời ca hóm hỉnh, mang lại tiếng cười sảng khoái cho các chiến sĩ trong trận tuyến quyết giữ mạch máu lưu thông cầu Hàm Rồng. Tiếc thay, từ thập niên 60 của thế kỉ XX trở lại đây, vì nhiều nguyên nhân khác nhau do điều kiện đặc thù của xã hội, đặc biệt là những quan niệm lệch lạc đã khiến các phường Xẩm dần mất đi vị thế trong đời sống tinh thần của người dân. Các nghệ nhân Xẩm tài danh dần bước vào tuổi xế chiều, rồi ra đi, lặng lẽ đem theo những giá trị to lớn mà họ từng cất giữ vào thực hành. Dẫu vậy, ngày nay, với các chính sách quan tâm đến bảo tồn văn hoá, Xẩm đang từng bước nhận được sự quan tâm từ mọi người bởi nó không chỉ dấu ấn to lớn của những người khiếm khuyết mà còn là một chứng nhân lịch sử quan trọng trong suốt nhiều thế tham khảo 1. Wikipedia tiếng Việt – Xẩm2. Trần Việt Ngữ 2002 – Hát xẩm3. Trần Thị Thanh Dung 2018 – Bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá hát xẩm trên địa bàn tỉnh Ninh Bình Luận văn Thạc sĩ Quản lý Văn hoá NỘI DUNG – LÀN ĐIỆU1. Nội dungHát Xẩm nằm trong loại hình hát nói kể chuyện, giai điệu hình thành chủ yếu dựa theo thanh điệu và ngữ điệu lời văn, nhiều tính tự sự. Nội dung của các bài hát Xẩm khá phong phú. Ngót nghét 400 bài hát và hầu hết trong số đó đều lưu giữ qua việc truyền miệng, không ai nhớ tên “tác giả”, đã phần nào biểu đạt được tâm tư, khát vọng của tầng lớp lao động, nông dân và thị dân xưa, đồng thời cũng cũng phản ánh suy nghĩ của chính nhân dân trước xã hội biến thiên thời người hát Xẩm, họ dùng giọng ca, tiếng đàn, lời hát để lên án, phản kháng những bất công cường quyền, áp bức, những thói hư tật xấu của xã hội, hay đôi khi là những tiếng hát có tính bi ai về số phận và cuộc sống của mình, đặc biệt từ cái nhìn của tầng lớp nghèo hoặc người phụ Xẩm Dạt Nước Cánh Bèo, trình bày bởi cố nghệ nhân Hà Thị Cầu, từ than số phận bản thân mà nói về cuộc sống vất vả của người phụ nữ trong xã hội xưa Nguồn YouTubeTuy nhiên, hát Xẩm vẫn cho thấy rõ tính nhân văn trữ tình hoà lẫn với niềm lạc quan. Điều này được thể hiện ở sự cảm thông và bênh vực cho những nỗi vất vả, khổ đau của tầng lớp nghèo, niềm tin yêu vào cuộc sống con người, những ước mơ lãng mạng bay xa. Trong Xẩm, mối quan hệ giữa con người với nhau như cha mẹ – con cái hay tình yêu đôi lứa cũng là một chủ đề thường gặp. Ở Xẩm, cái lạc quan, yêu đời thường lấn át những bi ra còn phải kể đến những bài Xẩm có nội dung khích lệ tinh thần yêu nước, một lòng với Đảng trong thời kỳ đất nước mưa bom, đạn lạc,…qua những lời hát Xẩm, những người nghệ sĩ đã phần nào truyền tải đi những thông điệp hết sức ý nghĩa về nhiều khía cạnh của xã hội. Theo nhạc sĩ Nguyễn Quang Long, ngay từ khi ra đời, Xẩm luôn là một “kênh” thông tin thời sự bằng âm nhạc, được dùng để truyền tải tình yêu quê hương, đất nước, truyền tải những thông điệp mang tính thời sự của xã Xẩm Theo Đảng trọn đời’ do cố nghệ nhân Hà Thị Cầu trình bày Nguồn YouTubeLời ca của những bài Xẩm chịu ảnh hưởng sâu sắc và quan hệ mất thiết với tục ngữ, dân dao, dân ca, dân nhạc vùng châu thổ sống Hồng, đúng ra vùng trung châu và đồng bằng phía Bắc, nên mang hầu hết đặc điểm của văn hoá dân gian vận dụng ngôn ngữ quần chúng đầy sáng tạo, kết hợp khôn khéo tiếng hát với tiếng nhạc cùng với động tác tuy còn đơn giản nhưng thuần phác. Khi tiếng ca Xẩm cất lên, người ta nghe thấy trong đó sự mộc mạc, giản dị và gần gũi. Cũng chính nhờ cái chân chất, thân quen trong mỗi câu hát đã giúp Xẩm vẫn tiếp tục hiện hữu trong chính xã hội hiện đại – nơi mà nhiều vẻ đẹp truyền thống đã bị bào mòn. Những bài Xẩm được hoàn thiện dần trên đường xẩm hành nghề, do sự đóng góp, trau chuốt của lớp lớp nghệ nhân truyền Làn điệu Ban đầu, hát Xẩm chỉ xuất hiện những làn điệu đơn giản, gần gũi với đời sống hàng ngày của người dân Xẩm Chợ, Xẩm Thập Ân,.. Sau này, Xẩm xuất hiện nhiều làn điệu hơn phù hợp với đời sống con người hiện đại. Các làn điệu xẩm thường được đặt tên theo bài hát, nơi biểu diễn, mục đích, nội dung. Điệu Xẩm Chợ Gắn liền với không gian biểu diễn là những nơi góc chợ, Xẩm Chợ thường giản dị, ngắn gọn, đậm tính hát kể chuyện và mang màu sắc hóm hỉnh, nhằm thu hút sự chú ý của người nghe. Dù vậy, đôi khi trong bài Xẩm Chợ vẫn tồn tại những giây phút sâu xa lắng bài Xẩm Chợ do NSƯT Văn Tỵ trình bày Nguồn YouTube Điệu Thập ân Xẩm Thập ân có nội dung là 10 điều ghi khắc công ơn sinh thành dưỡng dục của mẹ cha từ hồi con còn tấm bé đến lúc trưởng thành. Với tiếng ca giàu chất trữ tình, da diết, Xẩm Thập ân không chỉ nhắc nhở mỗi người nhớ về công lao của đấng sinh thành mà còn tượng trưng cho một ca giáo hiếu điển đoạn trích bài Thập Ân do cố nghệ nhân Hà Thị Cầu trình bày Nguồn YouTube Điệu Phồn Huê Qua làn điệu Xẩm Phồn Huê, nghệ nhân hát Xẩm gửi gắm tới những người phụ nữ phong kiến một sự đồng cảm to lớn. Ca từ của Xẩm Phồn huê là tiếng nói thuật lại nỗi đau khổ, khó nhằn của người phụ nữ đương thời và cũng đồng thời châm biếm. chỉ trích thói xấu của người chồng, của gia đình và rộng hơn là của cả xã hội lúc bấy bài Xẩm Phồn Huê do NSND Xuân Hoạch trình bày Nguồn YouTube Điệu Riềm Huê Xẩm Riềm Huê hay còn được gọi là xẩm Huê Tình mang tiết tấu vui tươi, rộn ràng cộng thêm sự xuất hiện đặc sắc của trống cơm trên giai điệu đã giúp người nghệ sĩ xẩm truyền tải được rất nhiều nội dung phong phú từ tình yêu đôi lứa cho đến trào phúng, châm chọc các thói hư tật xấu hay cảm thông cho số phận bạc bẽo của những người phụ bài Xẩm Huê Tình do cố nghệ nhân Hà Thị Cầu trình bày Nguồn YouTube Điệu Chênh Bong Làn điệu Chênh bông có nét đặc trưng trữ tình, duyên dáng nhưng cũng đầy vui tươi, nhiệt huyết của những chàng trai, cô gái đang độ tuổi cập kê muốn trao nhau những lời ong bướm. Điệu Hò bốn mùa Có tên gọi khác là Hò Khoan. Khác với các làn điệu còn lại, điệu Hò bốn mùa được biểu diễn bởi cả tập thể. Sở dĩ Hò bốn mùa được dùng trong cả tập thể bởi nó chuyên dùng trong công việc làm ăn của người nông dân, chẳng hạn như hát trong lúc cày cấy, gặt lúa. Khi ra tới Hà Nội hay các phố thị khác, làn điệu này được các nghệ nhân biến tấu đi để phù hợp với môi trường sống nơi tiết mục Hò Bốn Mùa Nguồn YouTube Điệu Hát ai Hát Ai là một điệu Xẩm có tính chất than thở chua chát, thường xuất hiện ở một số đoạn có nội dung buồn thảm trong các bài Xẩm dài. Khác với các làn điệu khác, trong bài Xẩm, Hát Ai thường không được sử dụng làm làn điệu chính. Xẩm Sai Điệu Xẩm Sai bắt nguồn từ điệu Hát Sai được các phù thuỷ xưa sử dụng trong các nghi lễ trừ tà xưa. Xẩm Sai thường dùng để lên án và đả kích những thói hư tật xấu trong xã Xẩm Thuốc Phiện’ do cố nghệ nhân Hà Thị Cầu trình bày Nguồn YouTube Điệu Ba bậc Ba bậc là làn điệu khá độc đáo của nghệ thuật Hát Xẩm. Ba bậc thiên về tính tự sự nhưng gắn với tình yêu đôi lứa, thường thể hiện tâm trạng của một chàng trai khi tương tư một cô gái. Xẩm Ba Bậc với những nét độc đáo của nó còn được các thể loại khác khai thác, như sang hát Ả đào gọi là Xẩm Nhà Tơ, Xẩm Nhà Trò, Xẩm Cô Đầu. Lời thơ thường mang tính bác học, dành cho đối tượng tri đoạn Xẩm Ba Bậc do NSND Xuân Hoạch trình bày Xẩm Hà Liễu Có tên gọi khác là Nữ Oán hay Nhân Tư, điệu Xẩm này như những lời tự than về nỗi ai oán, khổ đau của con người với nhịp điệu chậm rãi mà da diết, với những đoạn hát tuy không khéo dài mà cả bài có thể lên tới 10 khổ lời. Một bài tiêu biểu cho Xẩm Hà Liễu là bài Dạt Nước Cánh Bèo’ của cố nghệ nhân đã được trích dẫn ở đầu mục. Xẩm tàu điện Đây là loại xẩm được ra đời từ đầu thế kỉ XX ở môi trường đô thị Hà Nội, khi những chuyến tàu điện đã trở thành một sân khấu’ cho những nghệ sĩ Xẩm biểu diễn bằng cách đi qua các toa tàu. Các bài Xẩm thường có nhịp điệu nhanh, gọn, đôi khi được biểu diễn theo nhịp lắc lư của phóng sự ngắn về Xẩm Tàu điện Nguồn YouTubeNguồn tham khảo 1. Wikipedia tiếng Việt – Xẩm2. Trần Việt Ngữ 2002 – Hát xẩm3. Phạm Duy 2017 – Đặc khảo về dân nhạc Việt Nam4. Trần Thị Thanh Dung 2018 – Bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá hát xẩm trên địa bàn tỉnh Ninh Bình Luận văn Thạc sĩ Quản lý Văn hoá5. Nguyễn Phương Anh 2017 – Cùng tìm hiểu về 12 làn điệu Xẩm – NHẠC CỤ1. Nhạc cụ cơ bản Bộ nhạc cụ đơn giản nhất để hát Xẩm chỉ gồm đàn nhị và Sênh tiền, nhóm hát Xẩm đông người có thể dùng thêm đàn bầu, trống mảnh và phách bàn. Ngoài ra, đàn đáy, trống cơm, sáo và thanh la cũng có thể hiện diện trong hát Xẩm. Đàn nhị Là nhạc cụ thuộc bộ dây có cung vĩ, do đàn có 2 dây nên gọi là đàn nhị 二. Đàn xuất hiện ở Việt Nam khoảng thế kỷ 10. Ngoài người Kinh, nhiều người dân tộc thiểu số Việt Nam cũng sử dụng rộng rãi nhạc cụ này Tày, Nùng, Mường, Dao…. Nhị là một nhạc cụ quan trọng, đóng vai trò chủ đạo không thể thiếu trong nghệ thuật hát Xẩm – là linh hồn của một bài nhị có âm vực rộng hơn 2 quãng tám, âm thanh trong sáng, rõ ràng, mềm mại gần với giọng hát cao giọng kim. Muốn thay đổi âm sắc hoặc giảm độ vang người ta dùng đầu gối trái bịt một phần miệng loa của bát nhị khi ngồi trên ghế kéo đàn hay dùng ngón chân cái chạm vào da của bát nhị khi ngồi trên phản kéo đàn, trên ghế hay các vị trí ngồi khác. Nhờ những cách này âm thanh sẽ xa vẳng, mơ hồ, tối tăm và lạnh lẽo diễn tả tâm trạng thầm kín, buồn phiền,…Nghệ nhân Hà Thị Cầu và cây đàn nhị Ảnh Tuổi Trẻ OnlineKỹ thuật đàn khá phong phú, bao gồm từ ngón vuốt, ngón nhấn, ngón láy, ngón chuyền đến cung vĩ liền, cung vĩ ngắt, cung vĩ rời và cung vĩ rung,… Có tài liệu ghi lại rằng, trước đây người ta đã dùng đàn Bầu để đệm cho hát Xẩm nhưng sau này đã phát hiện ra đàn Nhị, tiếng đàn Nhị to hơn, phù hợp với chỗ đông người, đàn nhỏ gọn, tiện cho việc di chuyển… Trong hát Xẩm, đàn Nhị được sử dụng hết sức linh hoạt, mang nhiều tính ngẫu hứng. Tiếng đàn và giọng hát đan xen hòa quện với nhau, lúc trầm, lúc bổng. Sênh Sênh dùng đệm nhịp cho hát Xẩm có thể là sênh sứa gồm hai thanh tre hoặc gỗ hoặc sênh tiền có gắn thêm những đồng tiền kim loại để tạo âm thanh xúc xắc. Sênh tiền là một cặp phách hai lá bằng gỗ cứng. Lá phách thứ nhất gọi là “lá phách kép“, lá phách thứ hai gọi là “lá phách đơn“. Lá phách kép gồm hai thanh gỗ một dài 25 cm, một ngắn 11 cm được gắn úp vào nhau bằng một miếng da hay một bản lề. Phía đầu thanh dài có gắn các cọc tiền chinh. Lá phách đơn dài 25 cm có các đường rǎng cưa ở cạnh và ở mặt lá phách. Khi đánh phách, tay trái cầm lá phách kép, tay phải cầm lá phách đơn vừa đập, vừa rung, vừa quẹt tạo ra các tiết tấu nghe rất rộn ràng. Sênh tiền chủ yếu dùng đệm nhịp điệu ở các dàn nhạc tế, lễ, dàn đại nhạc cung đình và nhạc múa cổ tiền Ảnh Đọt chuối nonSênh sứa là loại phách gồm hai miếng tre giống như hình chiếc lá, chiều dài khoảng 14cm, chiều ngang đoạn giữa khoảng 5cm, bề cật tre là lưng, bề ruột tre là mặt. Cặp Kè tiếng trong, dòn, vui tươi, có những tiếng rung rất độc đáo. Khi biểu diễn Sênh Sứa, người chơi cầm đôi Cặp Kè trong lòng bàn tay, hai mặt lưng ấp vào nhau, cặp kè thường sử dụng hai đôi, cầm ở hai tay, với bàn tay điêu luyện, lúc mở lúc nắm vào, lúc rung các ngón tay, lúc tay này nắm tay kia mở, lưng cặp kè gõ vào nhau, tạo nên tiết tấu và hiệu quả âm thanh hấp dẫn. Sênh Sứa thường được sử dụng trong Ban nhạc Xẩm, đi cùng với Mõ tre nghe rất bình dị, hài sứa Ảnh Đọt chuối non2. Các nhạc cụ khác Trống mảnh Trống Xẩm hay còn gọi là trống mảnh, là nhạc cụ họ màng rung, chi gõ của dân tộc Việt. Tang trống bằng gỗ, cao khoảng 6 cm. Trống chỉ có một mặt, bịt bằng da, đường kính 10 cm. Đáy rộng hơn, đường kính 15 cm không bịt da. Dùi trống làm bằng gỗ cứng dài 20 cm. Khi diễn tấu trống mảnh được gõ bằng một dùi. Âm thanh trống mảnh đục, không vang. Trống có vai trò giữ phách, trong một bài xẩm đầu tiên phải có dạo trống, sau khi tiếng trống dứt là đến đàn nhị và sau đó là vào mảnh Nguồn Báo ảnh Việt Nam Phách Phách là nhạc cụ gõ, xuất hiện trong nhiều thể loại ca, múa nhạc ở Việt Nam từ lâu đời. Trong hát Xẩm phách gọi là cặp kè; trong Cải Lương và dàn nhạc tài tử phách là song lang; trong ca Huế phách là sênh, còn trong dàn nhạc tuồng, đám ma, múa tôn giáo và múa dân gian người ta mới gọi là phách. Nhiệm vụ của phách trong một chiếu Xẩm là giữ nhịp cho dàn nhạc, người trong xẩm Ảnh Wikipedia Đàn bầu Thuở hàn vi, cây Đàn Bầu đơn sơ đã gắn liền với nghệ thuật hát Xẩm. Lúc bấy giờ, cây đàn thể hiện vai trò của mình trong việc đệm hát hoặc độc tấu. Sau do đàn nhị dễ chơi hơn và có âm lượng tốt hơn phù hợp với chỗ đông người nên thường được sử dụng. Đàn bầu là loại đàn một dây của người Việt, thanh âm phát ra nhờ sử dụng que hay miếng gảy vào dây. Thời nhà Lý, Đàn Bầu được dùng để đệm cho người hát Xẩm, làm thanh bồi cho các khúc ca dân dã của nam thanh nữ tú tuổi tâm tình, của người già khắc khổ trong chuyến hành hương cuộc đời gian nan, của trẻ em hồn nhiên với tuổi thơ đầy bươn Xuân Hoạch hát Xẩm với cây đàn bầu Nguồn YouTube Đàn gáo Để thay cho đàn nhị truyền thống, có thể dùng đàn gáo còn được gọi là đàn Hồ. Đây là loại đàn được phát triển từ đàn nhị nhưng to và dài hơn, thích hợp khi đệm cho giọng trầm. Người ta dùng nó để đệm cho các giọng nam trung, nam trầm, nữ trung còn gọi là giọng thổ, diễn tả những âm điệu suy tư, trầm mặc hoặc những giai điệu buồn. NSND Xuân Hoạch cùng cây đàn gáo Ảnh Báo Ảnh Việt Nam Thanh la Thanh la là tên gọi một nhạc cụ thuộc họ tự thân vang, chi gõ của dân tộc Việt. ở miền Nam gọi là Đẩu, miền Trung gọi là Tang. Được làm bằng đồng kim hợp thiếc có pha chì, hình tròn. Thanh la có nhiều cỡ to, nhỏ khác nhau, đường kính 15 – 25 cm, mặt hơi phồng, xung quoanh có thành cao 4 cm, ở cạnh thanh la người ta dùi hai lỗ thủng để xỏ một sợi dây quai. Khi diễn tấu nhạc công cầm dây quai dơ lên, còn một tay cầm dùi gõ vào mặt thau tạo ra tiếng vang, trong la Ảnh Đọt chuối non Đàn đáy Hát Xẩm cô đào đệm đàn đáy và sênh phách, không dùng đàn bầu và nhị. Đàn đáy là một nhạc cụ do dân tộc Việt Nam sáng tạo ra. Không rõ đàn đáy xuất hiện lần đầu vào năm nào nhưng nó được nhắc đến gần 200 năm qua. Đàn đáy có tên gốc là “đàn không đáy” tức “vô đề cầm“, vì nó không có đáy hậu đàn. Do đó người ta gọi tắt là đàn đáy lâu ngày thành tên chính thức như hiện nay. Một giả thuyết khác cho rằng nhạc cụ này có dây đeo bằng vải, dây này trong chữ Hán là “đái” đai nên mới gọi là “đàn đái”, đọc chệch lâu ngày thành “đàn đáy”.NSND Xuân Hoạch với cây đàn đáy trong chương trình Chuyện nhạc Phố cổ’ năm 2016 Ảnh Báo Điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam Trống cơm Từ thế kỷ 10, trống cơm đã xuất hiện ở Việt Nam đời nhà Lý. Đây là nhạc cụ gõ, định âm, còn có tên gọi khác là phạn cổ phạn là cơm, cổ là trống. Trong các ban nhạc tuồng, chèo và ban nhạc tang lễ ngày xưa có loại trống này. Nhiều ban nhạc ngày nay cũng sử dụng trống cơm, trong đó có hát Xẩm. Trước khi đánh trống người ta thường lấy cơm nghiền nát, trét vào giữa mặt trống để định âm, do đó trống này gọi là “trống cơm”.Một bài xẩm có dùng trống cơm Nguồn YouTubeNguồn tham khảo 1. Wikipedia tiếng Việt – Xẩm2. Trần Văn Khê 2004 – Du ngoạn trong âm nhạc truyền thống Việt Nam XẨM NGÀY NAYNghệ thuật Xẩm Việt Nam hiện nay đã có nhiều thay đổi, bên cạnh những bài Xẩm cổ như Xẩm thập ân, Xẩm chợ, Xẩm tàu điện…, gần đây, các nghệ sĩ cũng sáng tác nhiều bài Xẩm mới, với lời hát thể hiện cái nhìn của giới trẻ về cuộc sống. Theo nhiều nhà nghiên cứu về loại hình nghệ thuật này, những thay đổi song song với việc phát triển Xẩm cổ đã và đang đưa hát Xẩm đến với nhiều đối tượng khán thính giả hơn, bên cạnh đó cũng góp phần bảo tồn và phát triển phong phú, đa dạng loại hình nghệ thuật của cội nguồn dân gian. Điều này thể hiện rõ trong những năm trở lại đây, Xẩm đã trở nên quen thuộc hơn với khán giả trong và ngoài Xẩm cổ động Tiêu diệt Corona’ của nhóm Xẩm Hà Thành Nguồn Nhóm Xẩm Hà ThànhNgoài ra, việc bảo tồn và gìn giữ lại những nét tinh túy nhất của Xẩm cổ cũng rất quan trọng. Hiện nay, rất nhiều các câu lạc bộ ở các tỉnh thành phía Bắc được lập ra nhằm mục đích truyền dạy lại bộ môn hát Xẩm, có thể kể ra như Câu lạc bộ Xẩm Yên Nhân Yên Mô, Ninh Bình, Câu lạc bộ Xẩm xã Yên Phong Yên Mô, Ninh Bình, Câu lạc bộ Xẩm Hà Thành Hà Nội, Câu lạc bộ Xẩm chợ Đồng Xuân Hà Nội,…Đặc biệt Trung tâm Phát triển nghệ thuật âm nhạc Việt Nam còn tổ chức dạy hát Xẩm miễn phí cho những người muốn học, với mong muốn nghệ thuật hát Xẩm ngày càng được nhiều người biết đến, đặc biệt là các bạn trẻ. Nhóm Xẩm Hà Thành Ảnh Công an Nhân dân onlineBên cạnh những nỗ lực truyền dạy cho thế hệ trẻ ngày nay, các ban, sở và cơ quan chính quyền đã có những chính sách và động thái nhằm đưa hát Xẩm đứng đúng vị trí vốn có của một loại hình nghệ thuật dân gian. Tỉnh Ninh Bình cùng các tỉnh khu vực phía Bắc đang có những nỗ lực đệ trình UNESCO công nhận hát Xẩm là di sản văn hóa thế giới cần được bảo vệ khẩn cấp. Nhằm tiếp tục phát huy giá trị của nghệ thuật hát Xẩm cũng nhữ kết nối các câu lạc bộ và những người đam mê, từ ngày 3 đến 5-12, Liên hoan các câu lạc bộ hát Xẩm khu vực phía Bắc lần thứ I – năm 2019 diễn ra tại tỉnh Ninh Bình với sự tham gia của 15 câu lạc bộ hát Xẩm ở các tỉnh, thành phố phía hoan các câu lạc bộ hát Xẩm khu vực phía Bắc lần thứ I – năm 2019 tại Ninh Bình Ảnh TTXVNĐây chính là thành quả của việc nỗ lực bảo tồn và lan tỏa nghệ thuật hát Xẩm đến từ Sở Văn hóa và Thể thao tỉnh Ninh Bình phối hợp với Cục Văn hóa cơ sở Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Trung tâm nghiên cứu bảo tồn và phát huy âm nhạc dân tộc đã tổ. Đây là hoạt động mang tính “chính danh” đầu tiên cho nghệ thuật hát Xẩm sau 15 năm các nhà nghiên cứu, các nghệ sĩ, nghệ nhân nỗ lực bảo tồn, gìn giữ và đưa hát Xẩm trở lại với công chúng. Không những thế, hát Xẩm còn trở thành “sứ giả văn hóa” được các nghệ sĩ mang ra nước ngoài biểu diễn. Các nghệ sĩ đã mang Xẩm đi giới thiệu và biểu diễn ở nhiều nước như Nhật Bản, Pháp, Đức, Hàn Quốc, Mỹ, Thái Lan, Trung Quốc… và nhận được sự đón nhận nhiệt tình của khán giả. Có cộng đồng người Việt ở nước ngoài vì mê Xẩm nên cũng đã thành lập câu lạc bộ hát Xẩm. Có những sinh viên nước ngoài còn xin học bổng để sang Việt Nam học hát các hoạt động truyền dạy hát Xẩm, biểu diễn, phục vụ các sự kiện và biểu diễn phục vụ khách du lịch cùng nỗ lực từ hoạt động của các cơ quan chức năng ở địa phương, nghệ thuật hát Xẩm đang được bảo tồn, phát huy, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tham khảo 1. Wikipedia tiếng Việt – Xẩm2. Phương Lan 2019 – Hát xẩm – Hành trình đến di sản – Bài 1, Bài 2, Bài 3 – Minh Phương 2019 – Liên hoan hát xẩm các tỉnh khu vực phía Bắc-Ninh Bình năm 2019 Cuộc hội ngộ của những người yêu nghệ thuật hát Xẩm – Báo Ninh Bình
Những Ca Khúc Hay Nhất Của Xuân Hinh Ft Thanh Thanh Hiền Thời lượng 11335 - Lượt nghe 142 Những Bài Hát Chèo Hay Nhất Của Nghệ Sĩ Thanh Tuyết Thời lượng 4707 - Lượt nghe 126 Những Bài Hát Chèo Đặc Sắc Nhất 2017 NSƯT Minh Phương Thời lượng 5230 - Lượt nghe 87 Người Ngoan - Hồng Luyến - Công Huynh Quan Họ Thời lượng 0422 - Lượt nghe 61 NSƯT Thanh Bình Những Bài Hát Chèo Xúc Động Hay Nhất 2017 Thời lượng 5856 - Lượt nghe 84 NSUT Xuân Hinh Hát Chầu Văn Thánh Ca Mẫu Hay Nhất Phần 1 Thời lượng 5520 - Lượt nghe 81 Những Làn điệu Chèo Hay Nhất - NSƯT Minh Phương Thời lượng 5002 - Lượt nghe 91 Những Bài Hát Chèo Hay Nhất Của NSƯT HỒNG NGÁT Thời lượng 1202 - Lượt nghe 272 Tuyển tập những ca khúc hát văn hay nhất của NSƯT Huyền Phin Thời lượng 5003 - Lượt nghe 166 Những Làn Điều chèo hay nhất - NSƯT Huyền Phin Thời lượng 5831 - Lượt nghe 123 Chợ Đồng Xuân - Hát Xẩm NSND Xuân Hoạch ft NSUT Thanh Ngoan Thời lượng 0835 - Lượt nghe 148 NSUT Xuân Hinh Hát Chầu Văn Thánh Ca Mẫu Hay Nhất Phần 2 Thời lượng 5526 - Lượt nghe 119 Hát chèo Cảnh chùa quê em - NSƯT Quốc Tuấn và NSƯT Thúy Hà Thời lượng 0452 - Lượt nghe 138 Những làn điệu Chèo Cổ Hay Nhất NSUT Thu Huyền thể hiện Thời lượng 12210 - Lượt nghe 174 Dân Ca Quan Họ Bắc Ninh Lời Cổ - Người Ngoan Thời lượng 0429 - Lượt nghe 79
Nghe tiếp1 Hát chầu văn ông Hoàng Mười hay nhất NSUT Xuân Hinh 0 4,178 2 Những bài văn ca thánh mẫu hay nhất của NSUT Xuân Hinh NSUT Xuân Hinh 0 1,310 3 Xuân Hinh và khúc hát văn NSUT Xuân Hinh 0 1,133 4 Dân ca và nhạc cổ truyền Giao duyên mời trầu NSƯT Thu Huyền, NSUT Xuân Hinh 0 779 5 Nhớ đêm giã bạn NSUT Thanh Thanh Hiền, NSUT Xuân Hinh 0 341 6 Văn quan Đệ Ngũ NSUT Xuân Hinh 0 262 7 Xuân Hinh với hát chầu văn NSUT Xuân Hinh, Đài PT và TH Ninh Bình 0 212 8 Văn Thờ NSUT Xuân Hinh 0 203 9 Giã bạn NSUT Thanh Thanh Hiền, NSUT Xuân Hinh 0 197 10 Văn cô Ba NSUT Xuân Hinh 0 182 Video xem nhiều Tuyển tập cải lương vọng cổ hơi dài Châu Thanh, NSƯT Phượng Hằng 47,562 Chèo Cổ Những Vở Hát Chèo Hay Nhất Của Nghệ Sĩ Thanh Tuyết Thanh Tuyết 33,058 Những Bài Hát Chầu Văn Hay Nhất Của Nghệ Sĩ Văn Chương NSƯT Văn Chương 20,996 Dòng Sông Quê Em NSND Lệ Thủy, NSND Thanh Tuấn 20,845 Lời mẹ hát NSND Hồng Lựu 17,668 Tuyệt tình ca Cải lương trước 1975 Hùng Cường, NSND Bạch Tuyết, NSND Út Trà Ôn, NSƯT Thanh Sang, NSƯT Út Bạch Lan 16,760 Phản hồi gần đâyLê Hùng trong Tình em xứ ThượngNGUYỄN VĂN HỆ trong Từ làng SenVUHAI trong Hát Ru – Đào LiễuNguyễn Huyền trong Cánh đồng Yên Dũngdương trong Hát chèo Hương bưởi
Ca sĩ Xuan Hinh Album Xẩm Hà Nội Anh đây mục họa vô nhân Nghe em nhan sắc lòng xuân nảo nùng Ấy ! Rồi em mặt phấn má hồng Dửng dưng anh chẳng thèm trông làm gì Lấy anh đi chứ phải làm gì Tay thì dặt thì quàng vai Vén tay sờ chốn em ngồi Anh thời chẳng thấy,em thời thở than Bâng khuâng như mất lạng vàng Cái sanh , cái trống , cái đàn ai mang Ai ơi thương kẻ dở dang Miệng ca ,tay gậy, khúc đàn tương tư Chẳng yêu , chăng nể , chẳng vì Cũng liều nhắm mắt, nuốt đi sao đành Một duyên hai nợ ba tình Chữ duyên , chữ phước mối tình ai mang Kẻo còn đi nhớ về thương, kẻo còn ép mối tơ vươn bên lòng Đôi ta chút nghĩa đèo bòng Cũng liều con mắt , tất lòng gian sai Ngại ngùng những bước chông gai Trần gian nhản nhục , nào ai biết gì Chữ tình là chữ chi chi Yêu nhau phải bảo đường đi lối về Đôi ta đã trót lời thề Đường xa dặt diểu, đi về có đôi Đến đâu người đứng ta ngồi Khi đàn khi hát những người chung quanh Ai ơi ăn ở cho lành Đôi bên hàng phố giáp ranh đón mời Đố ai đến chốn chợ trời Dẩn anh lên thoáng một vài ả nàg tiên
Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây. Chào các bạn, Tiếp theo “Hát Xoan Phú Thọ”, hôm nay mình giới thiệu đến các bạn “Hát Xẩm”, một trong những thể loại dân ca cổ xưa của Việt Nam chúng ta. Hát Xẩm là hình thức hát rong có địa bàn hoạt động khắp cả nước. Nhưng chỉ trong Hát Xẩm cổ vùng đồng bằng Bắc bộ mới có làn điệu riêng. Khi biểu diễn, người Hát Xẩm thường vừa hát vừa đánh đàn bầu còn gọi là đàn Xẩm hoặc kéo nhị, phối hợp với người đánh sênh, vỗ trống mảnh-đây là những nhạc cụ thường sử dụng trong dàn nhạc Xẩm. Đôi khi có thêm cả trống đế, mõ, hoặc một số nhạc cụ khác. “Hát Xẩm là một loại hình nghệ thuật ca nhạc dân gian mang tính chuyên nghiệp có nguồn gốc từ những người khiếm thị miền Bắc Việt Nam. Tính chuyên nghiệp của hát xẩm dựa vào bốn yếu tố văn học, làn điệu, nhạc cụ và môi trường diễn xướng. Theo tài liệu của thế giới về âm nhạc thì ca hát ra đời trước và sân khấu ra đời sau vì vậy sẽ không có chuyện hát xẩm lấy làn điệu chèo để làm giàu cho mình mà ngược lại nghệ thuật chèo đã vay mượn các làn điệu của nghệ thuật hát xẩm. Khi nghệ thuật ca trù rơi vào sự bế tắc đã lấy điệu xẩm Huê Tình vào để sử dụng, cũng xin được nói thêm điệu xẩm huê tình lúc bấy giờ rất phổ biến. Bộ môn nghệ thuật này đã đi vào quên lãng và có nguy cơ thất truyền.” trích GS Trần Quang Hải” Hát Xẩm ở Hải Phòng thời Pháp thuộc Dưới đây mình có bài “Hát Xẩm-bức tranh âm nhạc dân tộc” và bài “Nhạc cụ thường dùng trong nghệ thuật hát xẩm” sẽ dẫn giải giúp các bạn tham khảo thêm về bộ môn dân ca cổ truyền này. Cùng lúc, các bạn có thể đọc thêm bài “Xẩm Thập Ân – Hà Thị Cầu” của anh Nguyễn Chí Thuận ở đây. Sau đó mình có 1 clip “Di Sản Một Nghiệp Ca – Giới thiệu nghệ thuật Hát Xẩm và nghệ nhân kho tàng sống Hát Xẩm duy nhất, cụ Hà Thị Cầu”, 1 clip “Những Bài Xẩm Hay Nhất Của Nghệ Nhân – NSƯT Hà Thị Cầu”, 1 clip “Xẩm Thập Ân” của cụ Hà thị Cầu, và 9 clips Hát Xẩm do các nghệ nhân biểu diễn để các bạn rộng đường tham khảo và thưởng thức. Mời các bạn. Túy Phượng Cụ Hà Thị Cầu qua đời trưa ngày 3-3-2013, lúc 12g30 – hưởng thọ 89 tuổi ?. Bài này mình xin kính gửi lời tri ân đến cụ với tấm lòng kính mến nhất, cho một nghệ nhân đã gắn bó – gìn giữ – truyền bá kho tàng nghệ thuật cổ truyền Hát Xẩm của dân tộc suốt gần một thế kỷ. Chúng ta là những người thật may mắn đang được thừa hưởng kho tàng này hôm nay. Tấm ảnh dưới đây và ảnh đầu bài là ảnh của cụ Hà Thị Cầu. Cụ Hà Thị Cầu Hát xẩm – bức tranh âm nhạc dân tộc Nếu cây đàn Bầu được coi là tiếng đàn dân tộc, dung dị và gần gũi với đời sống người dân Việt thì Xẩm được coi là thể loại âm nhạc dân dã mang đậm bản sắc thôn quê đất Việt. Cuộc bình chọn này gần như có sự liên kết sâu chuỗi với nhau, bởi ca từ của Xẩm hòa cùng thanh âm của cây đàn Bầu đã tạo nên một loại hình nghệ thuật diễn xướng dân gian độc đáo – hát Xẩm. “Ai ơi thương kẻ dở dang Miệng ca tay gẩy khúc đàn tương tư” Ở nhiều vùng thuộc Miền Bắc Việt Nam như Thanh Hóa, Ninh Bình, Nam Định, Bắc Giang, Hà Nội, Hải Phòng…từ xa xưa, người khiếm thị đã đưa Xẩm trở thành một nghề để kiếm sống; một loại hình nghệ thuật mang nhiều giá trị nhân văn, thể hiện mọi cung bậc tình cảm, đôi khi pha chút hài hước, ai oán, lạc quan gắn liền với thời cuộc xã hội đương thời. Tìm hiểu chung về sự ra đời của Xẩm Từ khi ra đời hát Xẩm được gọi với nhiều tên gọi khác nhau như hát rong, hát dạo….và, những người biểu diễn được gọi với tên rất thân mật như bác Xẩm, anh Xẩm, chị Xẩm hay cô Xẩm. Theo các tài liệu nghiên cứu, cụ thể dựa trên tư liệu trong tác phẩm “Nghệ thuật hát xẩm” của tác giả Khương Văn Cường 2009, Xẩm xuất hiện dưới thời nhà Trần gắn liền với một truyền thuyết dân gian giàu ý nghĩa nhân văn. Trần Quốc Toán và Trần Quốc Đĩnh là hai hoàng tử của vua Trần Thánh Tông. Từ nhỏ, Trần Quốc Đĩnh đã nổi tiếng thông mình, hiếu nghĩa và đa tài nên được vua cha yêu mến. Trần Quốc Toán là anh cả sinh lòng ghen ghét, nhân cơ hội vua cha tổ chức cuộc thi kiếm ngọc quý trong rừng mà ra tay hãm hại Trần Quốc Đĩnh. Giữa chốn rừng sâu, Trần Quốc Toán nhẫn tâm chọc mù hai mắt Trần Quốc Đĩnh, cướp công em trai rồi bỏ chạy về hoàng cung. Tỉnh dậy với hai mắt mù loà, Trần Quốc Đĩnh đau đớn, than khóc rồi ngất đi. Trong giấc mơ, Bụt đã hiện lên dạy Trần Quốc Đĩnh cách làm một cây đàn, cách chơi đàn. Và ông đã tìm được niềm tin để sống, Trần Quốc Đĩnh mò mẫm làm đàn, tiếng đàn lời ca vang lên như thể hiện nỗi lòng về số phận đắng cay của mình. Thật kỳ lạ, chim muông bị thu hút bởi thanh âm ấy, chúng sà xuống nghe và mang hoa quả đến cho ông. Sau đó, những người đi rừng nghe tiếng đàn đã tìm thấy và đưa ông về thôn làng của họ. Trần Quốc Đĩnh dạy đàn cho những người khiếm thị, những người nghèo. Tiếng đồn về những khúc nhạc của ông lan đến hoàng cung, nhà vua mời ông vào hát để cùng vương tôn quý tộc thưởng thức và đã nhận ra người còn thất lạc của mình. Trở lại cuộc sống vương giả nhưng Trần Quốc Đĩnh vẫn tiếp tục mang tiếng đàn, lời ca góp vui cho đời, dạy cho người dân để họ có nghề kiếm sống. Hát Xẩm đã ra đời từ đó và Trần Quốc Đĩnh được suy tôn là ông tổ nghề hát Xẩm. Để tỏ lòng biết ơn đến công lao của ông, người dân đã lấy ngày 22 tháng 2 và ngày 22 tháng 8 âm lịch làm ngày giỗ của ông và cũng là kỷ niệm ngày hội hát Xẩm của dân tộc Việt. Mặc dù, nguồn gốc hát Xẩm không dựa trên chính sử, vua Trần Thánh Tông không có hoàng tử tên Đĩnh hay Toán, nhưng thánh tích này đã tạo nên một lịch sử ra đời đầy ưu ái mà nhân dân Việt dành cho loại hình nghệ thuật này. Đã bảy trăm năm trôi qua, mặc dù chưa có văn bản nào viết chính xác nguồn gốc ra đời của hát Xẩm, nhưng người đời vẫn truyền nhau câu chuyện của vua con nhà Trần. Xuất thân cao quý của ông Tổ nghề Xẩm là một hoàng tử, trái ngược với cách thức biểu diễn của Xẩm. Hành trình của loại hình nghệ thuật dân gian này, luôn gắn liền với một nhóm người, manh chiếu trải đất, cây đàn bầu cùng chiếc nón mê “rách cạnh”, nhưng không hề thấp kém, hơn nữa còn rất sâu sắc với lối kể tích khéo léo và hấp dẫn. Với những bài hát Xẩm xưa, dẫu rằng từ thôn quê, gắn liền với kế sinh nhai khốn khổ của người khiếm thị, có bóng dáng những nhọc nhằn lam lũ của người nông dân, bình dị đấy nhưng cũng rất văn học. Tính hàn lâm trong ca từ và sự chặt chẽ trong luật thơ của các bài Xẩm xưa, vì thế không quá khó hiểu nhưng rất độc đáo. Thời kỳ phong kiến, cuộc sống của những người hát Xẩm phụ thuộc hoàn toàn vào đời sống xã hội đương thời, giống như một nghề nghệ thuật, kế sinh nhai này kiếm chén cơm, bát gạo, vài hào tiền lẻ…tùy vào tâm và hoàn cảnh của người thưởng thức. Gánh Xẩm phiêu diêu nay đây mai đó, đối với họ gia đình là dân chúng, mái nhà là đình làng, bến nước, góc chợ quê; nơi đây lắng nghe tiếng đàn lời ca của họ, là sân khấu biểu diễn chứng kiến những thành quả lao động họ gặt hái được. Khác với các loại hình nghệ thuật khác, nghệ sĩ biểu diễn trong rạp hát, khán phòng…, có bán vé vào xem, được thu lợi từ đồng tiền. Hát Xẩm cũng mong đợi được khán giả đáp lại, nhưng điều đó dựa trên sự tự nguyện, ngoài những đồng tiền xu, nghệ sĩ Xẩm còn được người dân san sẻ những món quà, bánh trái, khoai sắn, cơm gạo…Và đối với họ, chiếc chậu đồng thau, cái nón mê là công cụ không thể thiếu trên những nẻo đường bất tận. Khi nghe tiếng leng keng của đồng xu chạm mặt đáy chiếc thau đồng, nghệ nhân hát Xẩm biết được mình đã được quan tâm, đã được sẻ chia, được đồng cảm….họ có động lực để hứng khởi đàn ca tiếp. Như vậy, lịch sử dân tộc Việt đã có một nghề nghiệp độc đáo và rất thú vị! Tiếp nối văn hóa dân tộc, nhằm tôn vinh, hỗ trợ các nghệ nhân, nghệ sĩ, nhà nghiên cứu, nhà báo có đóng góp cho âm nhạc truyền thống, Trung tâm Phát triển Nghệ thuật Âm nhạc Việt Nam thuộc Hội Nhạc sĩ Việt Nam đã lập ra giải thưởng Trần Quốc Đĩnh với lần trao giải đầu tiên vào năm 2008. Cái nì có vẻ chưa rõ lắm nhỉ. Giải thưởng này trao cho nghệ sĩ hát Xẩm hay người có công bảo tồn loại hình này. Có thể mở ngoặc sau Trần Quốc Đĩnh là ông tổ nghề hát xẩm cho rõ hơn chăng. Gánh Xẩm Xẩm được coi là nghệ thuật cổ truyền, là hình thức hát rong phổ biến trong xã hội phong kiến trước đây. Xẩm không chỉ là phương tiện kiếm sống của người khiếm thị, mà còn là hoạt động giải trí của người nông dân lúc nông nhàn. Kế sinh nhai nghệ thuật này, vô hình dung đưa hát Xẩm trở thành “đặc sản âm nhạc” của người ăn xin có cốt cách, của người khuyết tật có nghị lực sống. Họ đã dùng giọng ca, tiếng đàn, lời hát để lên án phản kháng những bất công cường quyền, áp bức, những thói hư tật xấu của xã hội, cất lên tiếng nói bênh vực những số phận bất hạnh nghèo khổ bị chà đạp. Tài ca đàn hát giống như món quà thiên phú bù đắp cho những khuyết tật cơ thể, tạo nên một món ăn tinh thần phong phú trong quần chúng lao động. Không chỉ phục vụ để kiếm sống hàng ngày, gánh Xẩm còn có mặt trong những dịp cưới xin, ma chay, giỗ chạp…có khi chỉ để sẻ chia những buồn vui tư gia. Đề tài hát Xẩm đề cập đến nhiều khía cạnh trong cuộc sống, không chỉ thể hiện những bài ca dao tục ngữ cổ, mà người hát còn tự thảo các khúc ca riêng dành cho thể loại âm nhạc này, từ tình cảm gia đình, vợ chồng đến tình cảm trai gái. Gánh Xẩm thông thường gồm một nhóm người, có mối quan hệ huyết thống hoặc thân thiết với nhau. Trong lúc kiếm sống hoặc trong những dịp hội làng, gánh Xẩm phối hợp nghệ thuật với nhau để biểu diễn. Quy mô hơn nữa, từng vùng sẽ có phường hội do nhiều nhóm Xẩm tạo thành, có tổ chức trên dưới, có trùm phường điều hành các nhóm làm ăn theo đúng trật tự. Ngày nay, nhiều người nghĩ Xẩm là lối hát chỉ của người khiếm thị, người ăn xin, nhưng trên thực tế chính họ đã đưa Xẩm thành một nghề kiếm sống trong sáng bằng chính tài năng thiên bẩm của bản thân. Hơn nữa, nó còn là một thể loại diễn xướng dân gian được ưa chuộng xưa kia, không chỉ cho người nghèo, mà ngay cả phú hộ cũng ưa thích được thưởng thức những làn điệu Xẩm vui nhộn sau những vụ mùa bội thu. Do đó, tuy cuộc sống khó khăn, lại phụ thuộc vào hoàn cảnh sống xã hội, nhưng nghệ nhân Xẩm không chán ghét bi quan với cảnh đời, họ luôn có lòng tự trọng cao, yêu thích cũng như tôn quý nghề nghiệp của mình Cái nghiệp cầm ca có ích cho đời Tay đàn miệng hát giúp đời mua vui Trích bài Xẩm “Đáng mặt anh hào chứ?” của Tản Đà Được coi là loại hình âm nhạc giàu tính nhân văn và tính cộng đồng cao, nên Xẩm không hoạt động đơn lẻ. Mặc dù chưa được công nhận là một môn nghệ thuật nhưng họ luôn có ý thức truyền nghề cho con em một cách bài bản, các nghệ sĩ dựa vào nhau, đùm bọc lẫn nhau trên hành trình sinh nhai “Lá lành đùm lá rách, lá rách ít đùm lá rách nhiều”. Từ tên gọi, đến biểu diễn, nhóm Xẩm đều rất dân dã, gần gũi với đời sống người lao động. Điều đó đã nói lên phần nào cội nguồn sâu xa, ý nghĩa phồn thịnh của nền văn hóa cổ truyền Việt Nam, đưa âm nhạc dân tộc phát triển thành di sản đặc sắc chứa đựng linh hồn đất nước. Xẩm lai ăn chay sình bụng Ăn vụng rụng răng Ăn măng rách lưỡi Ăn bưởi the thẹ… Ca dao Sự ra đời của Xẩm tàu điện Những năm đầu thế kỷ XX, giai đoạn thực dân nửa phong kiến, thời kỳ chiến tranh chống Pháp, những người hát Xẩm ở các vùng quê “đùm to, đùm nhỏ” cùng nhau lên chốn thị thành như Hà Nội để hành nghề kiếm sống. Mùa màng thất bát, thời chiến loạn lạc, gánh Xẩm ở thôn làng xưa buộc phải tìm môi trường mới để sống và hát. Những chuyến tàu điện hành trình ngắn, tiếng leng keng báo hiệu tàu đi tàu đến, đông đúc người qua lại và dễ dàng thu hút người xem đã là không gian diễn xướng lý tưởng cho loại hình nghệ thuật độc đáo này. Bến xe điện Bờ Hồ nằm ngay đầu đại lộ Francis Garnier ngày ấy ngày nay là phố Đinh Tiên Hoàng , đều đều chở khách ngược xuôi quanh Hà Nội, đã trở thành địa chỉ quen thuộc đặc trưng văn hóa của người dân Hà Thành. Để rồi khúc ca Xẩm vang lên, làm cuộc sống ồn ào thị thành như có chốn dừng chân, đó chính là Xẩm Hà Nội hay còn gọi là Xẩm tàu điện. Mặc dù tàu điện không còn nữa nhưng hồn Xẩm xưa vẫn tồn tại cùng thời gian. Khi bước chân từ chốn thôn quê ra Hà Nội, Xẩm chợ đã trở nên chuyên nghiệp hơn. Vẫn là lối hát đồng nội ấy, nhưng tiết tấu nhanh và bóng bẩy hơn, trang phục biểu diễn cầu kỳ hơn. Nhịp sống nơi đây vốn đã sôi động, nhiều người tri thức cao, vốn am hiểu sâu, nên nhu cầu thẩm mỹ trong ca từ Xẩm cũng được người nghệ sĩ khéo léo vận dụng. Những bài thơ mới của các thi sĩ nổi tiếng như Nguyễn Bính, Nguyễn Khuyến, Á Nam Trần Quang Khải…cũng được đưa vào làm phong phú thêm những câu hát trong các làn điệu Xẩm. Ngược xuôi 36 phố phường, tàu điện mang niềm vui ca hát cho phố hội Thăng Long, đưa Xẩm trở thành loại hình âm nhạc đường phố vô cùng độc đáo, gắn bó thân thiết với bước chân già trẻ gái trai nơi đây. Việt Nam tự hào có Hà Nội mang bản sắc riêng với nghệ thuật dân gian đường phố sắc nét mà hiếm có địa danh nào trên thế giới có được. Được coi là loại hình nghệ thuật mở nhất trong kho tàng nghệ thuật truyền thống bởi Xẩm không quá kén chọn cũng như phân biệt đối tượng và không gian biểu diễn. Hà Nội cần tôn vinh và tạo nhiều điều kiện cho Xẩm đi vào cuộc sống hiện đại của người dân Việt, biến tấu khéo léo để Xẩm thích ứng, thu hút giới trẻ nhiều hơn. Kết Xẩm là một trong những loại hình nghệ thuật diễn xướng dân gian tiêu biểu của Việt Nam. Xét về mặt truyền thống văn hóa, những khúc ca Xẩm là sự thể hiện rõ nét đời sống, tư tưởng, tâm hồn của cha ông ta. Đó chính là hồn xưa Việt, là một phần của nguồn cội dân tộc cần được lưu giữ và phát triển trong cộng đồng. Oanh Phương Nhạc cụ thường dùng trong nghệ thuật hát xẩm Nói đến hát Xẩm, người ta thường nghĩ ngay đến hình ảnh một người khiếm thị với cây đàn nhị trên tay, đưa đẩy những tiếng đàn làm nao lòng người nghe. Nhị là một nhạc cụ quan trọng, đóng vai trò chủ đạo không thể thiếu trong nghệ thuật hát Xẩm. Ngay như nghệ nhân Hà Thị Cầu khi kể chuyện đời hát Xẩm của mình cũng không bao giờ quên nhắc về cây nhị. Nhưng bên cạnh nhị còn có nhiều nhạc cụ khác nữa mà chúng ta hiếm khi được nhìn thấy một cách đầy đủ. Một nhóm hát Xẩm đông người mới hay dùng thêm những nhạc cụ khác, còn về cơ bản, bộ nhạc cụ đơn giản nhất để hát Xẩm chỉ gồm đàn nhị và sênh. Đàn nhị Là nhạc cụ thuộc bộ dây có cung vĩ, do đàn có 2 dây nên gọi là đàn nhị 二. Đàn xuất hiện ở Việt Nam khoảng thế kỷ 10. Ngoài người Kinh, nhiều người dân tộc thiểu số Việt Nam cũng sử dụng rộng rãi nhạc cụ này Tày, Nùng, Mường, Dao…. Bát nhị còn gọi là ống nhị là bộ phận tăng âm bầu vang rỗng ruột, hình hoa muống, làm bằng gỗ cứng. Bát nhị có 2 đầu, đầu này bịt da rắn hay kỳ đà, còn đầu kia xòe ra không bịt gì cả. Ngựa đàn nằm ở khoảng giữa mặt da. Dọc nhị còn gọi là cần nhị, cán nhị dáng thẳng đứng, đầu hơi ngả về phía sau, gốc cắm xuyên qua lưng bát nhị, gần phía mặt da. Trục dây trục trên và trục dưới đều gắn xuyên qua đầu dọc nhị nằm cùng hướng với bát nhị. Dây nhị Trước đây dây đàn được làm bằng sợi tơ se, ngày nay làm bằng nilon hoặc kim loại. Dây kim loại cho âm thanh chuẩn hơn nhưng không ngọt ngào bằng dây tơ hay dây nilon. Dây đàn chỉnh theo quãng 4 đúng, quãng 5 đúng, quãng 7 thứ… nhưng phổ biến nhất là quãng 5 đúng. Cử nhị hay khuyết nhị là một sợi dây tơ se neo 2 dây đàn vào gần sát dọc nhị, nơi dưới hai trục dây. Có khi cử nhị là một khung áo buộc gần sát dọc nhị, hai dây đàn xỏ qua hai lỗ khung này. Cử nhị là bộ phận để điều chỉnh cao độ âm thanh. Nếu bạn kéo cử nhị xuống, 2 dây đàn sẽ ngắt quãng hơn, tạo ra âm thanh cao hơn. nếu bạn đẩy cử nhị lên khi đàn 2 dây sẽ phát ra âm thanh trầm hơn vì quãng dây dài hơn. Tuy nhiên để lên dây đàn người ta còn vặn trục dây nữa. Cung vĩ làm bằng cành tre, cành lớp hay gỗ có mắc lông đuôi ngựa. Những lông đuôi ngựa nằm giữa hai dây đàn để kéo đẩy, cọ xát vào dây đàn tạo ra âm thanh. Do những lông đuôi ngựa kẹt hai dây đàn nên ta không thể tách rời cung vĩ khỏi thân đàn. Đàn nhị có âm vực rộng hơn 2 quãng tám, âm thanh trong sáng, rõ ràng, mềm mại gần với giọng hát cao giọng kim. Muốn thay đổi âm sắc hoặc giảm độ vang người ta dùng đầu gối trái bịt một phần miệng loa xòe của bát nhị khi ngồi trên ghế kéo đàn hay dùng ngón chân cái chạm vào da của bát nhị khi ngồi trên phản kéo đàn, trên chiếu. Nhờ những cách này âm thanh sẽ xa vẳng, mơ hồ, tối tăm và lạnh lẽo diễn tả tâm trạng thầm kín, buồn phiền… Sênh Có hai loại là Sênh sứa hoặc Sênh tiền. Sênh tiền là một cặp phách hai lá bằng gỗ cứng. Lá phách thứ nhất gọi là “lá phách kép“, lá phách thứ hai gọi là “lá phách đơn“. Lá phách kép gồm hai thanh gỗ một dài 25 cm, một ngắn 11 cm được gắn úp vào nhau bằng một miếng da hay một bản lề. Phía đầu thanh dài có gắn các cọc tiền chinh. Lá phách đơn dài 25 cm có các đường rǎng cưa ở cạnh và ở mặt lá phách. Khi đánh phách, tay trái cầm lá phách kép, tay phải cầm lá phách đơn vừa đập, vừa ung, vừa quẹt tạo ra các tiết tấu nghe rất rộn ràng. Sênh tiền chủ yếu dùng đệm nhịp điệu ở các dàn nhạc tế, lễ, dàn đại nhạc cung đình và nhạc múa cổ truyền. Sênh sứa là loại phách gồm hai miếng tre giống như hình chiếc lá, chiều dài khoảng 14cm, chiều ngang đoạn giữa khoảng 5cm, bề cật tre là lưng, bề ruột tre là mặt. Cặp Kè tiếng trong, dòn, vui tươi, có những tiếng rung rất độc đáo. Khi biểu diễn Sênh Sứa, người chơi cầm đôi Cặp Kè trong lòng bàn tay, hai mặt lưng ấp vào nhau, cặp kè thường sử dụng hai đôi, cầm ở hai tay, với bàn tay điêu luyện, lúc mở lúc nắm vào, lúc rung các ngón tay, lúc tay này nắm tay kia mở, lưng cặp kè gõ vào nhau, tạo nên tiết tấu và hiệu quả âm thanh hấp dẫn. Sênh Sứa thường được sử dụng trong Ban nhạc Xẩm, đi cùng với Mõ tre nghe rất bình dị, hài hòa. Phách. Phách Phách là nhạc cụ gõ, xuất hiện trong nhiều thể loại ca, múa nhạc ở Việt Nam từ lâu đời. Phách có nhiều loại và tên gọi khác nhau. Trong hát xẩm phách gọi là cặp kè; trong cải lương và dàn nhạc tài tử phách là song lang; trong ca Huế phách là sênh, còn trong dàn nhạc tuồng, đám ma, múa tôn giáo và múa dân gian người ta mới gọi là phách… Nhiệm vụ của phách là giữ nhịp cho dàn nhạc, người hát hoặc múa. Nhịp của phách đơn giản trong cải lương, nhưng phức tạp và biến tấu trong những dàn nhạc sân khấu. Đàn Bầu Đàn bầu Có tài liệu cho rằng đàn bầu khởi thuỷ là nhạc cụ đặc trưng của hát xẩm, sau do đàn nhị dễ chơi hơn và có âm lượng tốt hơn phù hợp với chỗ đông người nên thường được sử dụng. Đàn bầu là loại đàn một dây của người Việt, thanh âm phát ra nhờ sử dụng que hay miếng gảy vào dây. Dựa theo cấu tạo của hộp cộng hưởng, đàn bầu chia hai loại là đàn thân tre và đàn hộp gỗ, trong trường hợp này, chúng ta chỉ tìm hiểu về đàn Bầu thân tre là loại phổ biến dùng cho người hát xẩm hoặc những nơi khó khăn không có điều kiện chế tác như đàn Bầu nguyên bản. Đàn thân tre có thân đàn làm bằng một đoạn tre hoặc ống bương dài khoảng 120 cm, đường kính 12 cm. Mặt đàn là chỗ đã được lóc đi một phần cật thích hợp trên đoạn tre hoặc bương. Cần đàn xuyên qua nửa đoạn trẻ hoặc ống bương và cắm vào một lỗ trên mặt đầu nhỏ của vỏ đàn. Một đầu dây đàn buộc cố định vào cần đàn khoảng giữa bầu đàn. Que gảy đàn thường được vót bằng tre, giang, thân dừa, gỗ mềm… Người ta hay làm bông hoặc tưa đầu nhọn một chút để làm mềm âm thanh khi gảy. Ngày xưa hay dùng que dài khoảng 10cm, ngày nay với nhiều kỹ thuật diễn tấu nhanh nên người ta hay dùng que ngắn chừng 4-4,5 cm. Trống Mảnh Trống mảnh Trống mảnh còn gọi là Bồng bộc, thuộc nhạc cụ màng rung, chi gõ của dân tộc Việt. Tang trống bằng gỗ, cao khoảng 6 cm. Trống chỉ có một mặt, bịt bằng da, đường kính 10 cm. Đáy rộng hơn, đường kính 15 cm không bịt da. Dùi trống làm bằng gỗ cứng dài 20 cm. Khi diễn tấu trống mảnh được gõ bằng một dùi. Âm thanh trống mảnh đục, không vang. Trống mảnh thường tham gia hòa tấu trong dàn tiểu nhạc, đặc biệt thường dùng trong hát xẩm Đàn Gáo Đàn gáo Để thay cho đàn nhị truyền thống, có thể dùng đàn gáo còn được gọi là đàn Hồ. Đây là loại đàn được phát triển từ đàn nhị nhưng to và dài hơn, thích hợp khi đệm cho giọng trầm. Đàn gáo thuộc bộ dây, sử dụng cung mã vĩ lông đuôi ngựa kéo trượt vào dây để tạo âm. Vì cùng có hai dây nên đàn gáo có cấu tạo giống như đàn nhị nhưng kích thước bầu cộng hưởng lớn hơn, âm thanh trầm hơn đàn nhị. Đàn gáo thường có trong biên chế của dàn nhạc dân tộc cổ truyền. Người ta dùng nó để đệm cho các giọng nam trung, nam trầm, nữ trung còn gọi là giọng thổ, diễn tả những âm điệu suy tư, trầm mặc hoặc những giai điệu buồn. Đàn gáo cũng được dùng phổ biến trong nghệ thuật hát xẩm. Đàn Đáy Đàn đáy Đàn đáy là một nhạc cụ do dân tộc Việt Nam sáng tạo ra. Không rõ đàn đáy xuất hiện lần đầu vào năm nào nhưng nó được nhắc đến gần 200 năm qua. Đàn đáy có tên gốc là “đàn không đáy” tức “vô đề cầm“, vì nó không có đáy hậu đàn. Do đó người ta gọi tắt là đàn đáy lâu ngày thành tên chính thức như hiện nay. Một giả thuyết khác cho rằng nhạc cụ này có dây đeo bằng vải, dây này trong chữ Hán là “đái” đai nên mới gọi là “đàn đái”, đọc chệch lâu ngày thành “đàn đáy”. Đàn đáy có 4 bộ phận chính Bầu đàn, Cần đàn, Đầu đàn, và Dây đàn. Bầu đàn còn gọi là thùng đàn bằng gỗ, hình thang cân. Đáy lớn nằm phía trên, rộng khoảng 23-30 cm, đáy nhỏ nằm phía dưới rộng khoảng 18-20 cm. Cạnh 2 bên khoảng 31-40 cm. Thành đàn vang bằng gỗ cứng, dày khoảng 8-10 cm. Mặt đàn bằng gỗ ngô đồng, có một bộ phận để móc dây đàn cái thú. Có khi mặt đàn khoét một lỗ hình chữ nhật. Đáy đàn thủng hình chữ nhật. Cần đàn dài 1,10-1,30 m gắn phía trên từ 10 đến 12 phím đàn bằng tre nhưng đàn đáy cổ có 16 phím. Các phím này dày và cao, phần đỉnh dài hơn phần chân phím. Tính từ đầu đàn trở xuống, phím đầu tiên không gắn sát vào sơn khâu như nhiều nhạc cụ khác mà lại nằm ở quãng giữa cần đàn. Đầu đàn hình lá đề, hốc luồn dây có 3 trục chỉnh dây. Dây đàn 3 dây bằng tơ se, dài, mềm và dễ nhấn mang tên dây Hàng, dây Trung và dây Liễu. Ngày nay, những dây này có thể bằng nilon với kích cỡ to nhỏ khác nhau, mỗi dây cách nhau 1 quãng bốn đúng. Dây đàn được chia làm năn cung cung Nam, cung Bắc, cung Nao, cung Huỳnh và cung Pha. Đàn đáy có âm sắc ấm áp dịu ngọt và có thể diễn tả tình cảm sâu sắc. Trống cơm Từ thế kỷ 10, trống cơm đã xuất hiện ở Việt Nam đời nhà Lý. Đây là nhạc cụ gõ, định âm, còn có tên gọi khác là phạn cổ phạn là cơm, cổ là trống. Trong các ban nhạc tuồng, chèo và ban nhạc tang lễ ngày xưa có loại trống này. Nhiều ban nhạc ngày nay cũng sử dụng trống cơm. Trước khi đánh trống người ta thường lấy cơm nghiền nát, trét vào giữa mặt trống để định âm, do đó trống này gọi là “trống cơm”. Trống cơm có 2 mặt trống hình tròn bằng nhau, đường kính khoảng 15cm. Mặt trống bịt da, đường viền buộc bằng sợi mây hay da dây xạ kéo từ đầu trống này sang đầu trống kia để chỉnh độ căng giữa 2 mặt trống. Tang trống bằng gỗ hình ống tròn, hai đầu hơi khum lại, đường kính ở tang trống đoạn giữa lớn hơn đường kính mặt trống. Tang trống để mộc hoặc sơn đỏ. Có loại trống cơm đường viền đóng bằng đinh tre vào tang trống. Người ta trét cơm thường là cơm nóng vào giữa để định âm. Nếu trét nhiều cơm thì âm thanh phát ra trầm, ít cơm thì âm thanh sẽ cao hơn. Hai mặt trống cách nhau một quãng năm đúng. Trống cơm có âm thanh vang nhưng mờ đục, diễn tả tốt tình cảm buồn, sâu sắc. Tiếng trống cơm nghe gần giống tiếng đàn hồ lớn bật dây nên đôi lúc người ta sử dụng nó thay âm thanh đàn hồ lớn trong những âm trầm nhất định nào đó. Tùy theo chất cơm trét mặt trống âm thanh phát ra sẽ có chất lượng tốt hay xấu tương ứng. Để diễn trống này người ta đeo trống bằng 1 dây da quàng qua cổ, đặt trống ngang trước bụng rồi dùng 2 tay vỗ vào 2 mặt trống. Tay trái vỗ vào mặt thổ phát ra âm trầm, tay phải vỗ vào mặt kim phát ra âm cao. Sáo Sáo Ở Việt Nam sáo ngang rất thông dụng và có nhiều loại. Sáo ngang ngày xưa có 6 lỗ bấm cách đều nhau nhưng không còn được sử dụng. Loại sáo ngang ngày nay có các lỗ bấm theo hệ thống thất cung với tên gọi khác nhau căn cứ vào âm trầm nhất, thí dụ như sáo đô, sáo rê, sáo mi giáng và sáo sol …Mỗi loại sáo có giọng riêng nên người diễn thường chọn loại sáo làm sao để phù hợp với bài bản. Sáo ngang thường làm bằng ống trúc, ống nứa hoặc ống rùng. Về cơ bản, sáo ngang có 1 lỗ thổi nằm cùng hàng với 6 lỗ bấm. Ngoài ra còn 1 lỗ dán màng sáo Trung Quốc, lỗ âm cơ bản và những lỗ để buộc dây treo hay tua trang trí. Sáo Ngang Sáo ngang Lỗ âm cơ bản là lỗ khoét cuối ống, quyết định âm trầm nhất khi ta bịt kín tất cả những lỗ bấm. Âm trầm này dùng để xác định tên gọi của loại sáo. Tuy nhiên, có những cây sáo không có lỗ âm cơ bản nếu chúng bị cắt cụt ngay chỗ đó. Để xác định tên gọi người ta căn cứ vào đầu lỗ của ống sáo và cho đó là lỗ âm cơ bản. Lỗ dán màng nằm giữa lỗ thổi và những lỗ bấm. Lỗ này dán 1 màng mỏng bằng ruột cây tre hoặc bằng giấy bóng mỏng, tuy nhiên một số cây sáo không có lỗ này. Thông thường sáo ngang có âm vực rộng 2 quãng tám. Dù sáo âm thấp hay cao đều có âm sắc trong sáng, tươi tắn, gợi nhớ khung cảnh đồng quê. Tuy nhiên người ta có thể sử dụng chúng để diễn tả những giai điệu buồn man mác. Thanh La Thanh la Thanh la là tên gọi một nhạc cụ thuộc họ tự thân vang, chi gõ của dân tộc Việt. ở miền Nam gọi là Đẩu, miền Trung gọi là Tang. Được làm bằng đồng kim hợp thiếc có pha chì, hình tròn. Thanh la có nhiều cỡ to, nhỏ khác nhau, đường kính 15 – 25 cm, mặt hơi phồng, xung quoanh có thành cao 4 cm, ở cạnh thanh la người ta dùi hai lỗ thủng để xỏ một sợi dây quai. Khi diễn tấu nhạc công cầm dây quai dơ lên, còn một tay cầm dùi gõ vào mặt thau tạo ra tiếng vang, trong trẻo. Thanh la được sử dụng trong dàn đại nhạc, dàn nhạc lễ miền nam, trong ban nhạc chèo, chầu vǎn và dàn nhạc dân tộc tổng hợp. Vân Anh oOo Di Sản Một Nghiệp Ca – Giới thiệu nghệ thuật Hát Xẩm và nghệ nhân kho tàng sống Hát Xẩm duy nhất, cụ Hà Thị Cầu Những bài Xẩm hay nhất của NNƯT Hà Thị Cầu Xẩm Thập Ân – NNƯT Hà Thị Cầu Xẩm Chợ Đồng Xuân – NSND Xuân Hoạch – NSƯT Thanh Ngoan Xẩm Cô Hàng Nước – NSƯT Thanh Ngoan – Tuyết Hoa Xẩm Hà Thành 36 Phố Phường – NSƯT Đoàn Thanh Bình Xẩm Nhị Tình – NSƯT Thanh Ngoan Phồn Huê – NSND Xuân Hoạch Hát Xẩm Tàu Điện – Lỡ Bước Sang Ngang Quyết Chí Tu Thân – NSND Xuân Hoạch Thưởng Hoa – NSƯT Văn Tỵ Xẩm Chợ – NSƯT Văn Tỵ Xẩm Sắm Mã – NSƯT Thúy Đạt
các bài hát xẩm