Cho đến khi, một người anh của tôi, nói với tôi rằng: Không cần bắt đầu ở đâu xa, hãy bắt đầu có trách nhiệm với bản thân mình trước. "Chú hãy chăm sóc bản thân mình, như thể mình là một người mà bản thân phải chăm sóc. Hãy đối xử với mình như là một đứa em trai mà mình phải chăm sóc.
2. Trách nhiệm bản thân trong việc xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc 3. Liên hệ thực tiễn cơ quan đơn vị, trách nhiệm bản thân trong xây dựng đại đoàn kết dân tộc 4. Phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong đại dịch Covid19 5. Ý nghĩa của việc xây dựng đoàn kết nội bộ theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay
Trách nhiệm của thanh niên đối với đất nước. Trong công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn đánh giá rất cao vai trò của thanh niên trong công cuộc góp phần xây dựng, phát huy truyền thống anh hùng của dân tộc, đồng thời vận động thế hệ thanh niên tham gia vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Học để làm chồng, làm cha tốt hơn. Cuối tháng 9/2022, Hội Nông dân tỉnh phối hợp Hội Nông dân xã Cù Bị ra mắt mô hình "Người cha trách nhiệm". Đây là mô hình thứ 4 của tỉnh được thành lập, sau các xã Sông Xoài, Hắc Dịch, TX. Phú Mỹ và Xà Bang, huyện Châu Đức
1. Đoạn văn trình bày suy nghĩ về trách nhiệm bản thân với tiếng Việt hiện nay Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt là trách nhiệm và nghĩa vụ của mỗi người dân Việt Nam, trong đó có học sinh - những người thường xuyên sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ trong giao tiếp xã hội, trong học tập, nghiên cứu.
Quyết định số: 766/QĐ-UBCK ngày 19 tháng 11 năm 2021 của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước. Tin tức CPA VietNam
Ý thức trách nhiệm còn thể hiện ở tính chịu trách nhiệm. Người dám chịu trách nhiệm là người dám nghĩ, dám làm. Dám nhận trách nhiệm, đồng thời nỗ lực hết sức mình để hoàn thành nhiệm vụ. Khi không hoàn thành cũng không tránh né, đùn đẩy cho hoàn cảnh hay người khác. Biết nhận lỗi và sẵn sàng gánh chịu hậu quả xấu.
Hiểu một cách đơn giản, tinh thần trách nhiệm chính là yếu tố mang tính quyết định tới sự thành công, thất bại cũng như sự phát triển bền vững trên con đường career path, định hướng nghề nghiệp bản thân của mỗi cá nhân. Tinh thần ấy được biểu hiện cụ thể qua chính lối sống và trong chính việc làm của chúng ta.
Cách Vay Tiền Trên Momo. Who is Better, Shen or Tahm Kench? Both League of Legends champions are great champions. Both champs have their pros and cons. In the game's current meta, Shen usually fairs equally well when facing off against Tahm Kench, with a win rate. As a result, Shen makes an ok counter for Tahm Kench. While Shen does have a higher winrate than Tahm Kench, when on opposite teams, Shen also has a lower difficulty level that makes him a less challenging champion to learn and master. You still need to be cautious when picking Shen into Tahm Kench. Moreover, Shen also has a lot of CC and other utility, a similar amount to Tahm Kench. This often makes her just as valuable during teamfights, especially when facing champions with a ton of burst damage. While there is not one best champion overall in League of Legends, in Shen vs Tahm Kench matchups, Tahm Kench is the better champ with a similar win rate, less champion complexity, and a similar amount of utility to help out your teammates during late stage team fights. Shen is a decent counter to Tahm Kench. Make sure you focus your tactics on keeping up your gold income and destroying objectives. If you do that, you should hold your own as Shen against Tahm Kench.
“Những gì bạn thực sự tin tưởng bằng tất cả cảm xúc sẽ trở thành hiện thực” Quy luật Niềm tin phát biểu rằng, bất cứ điều gì bạn tin tưởng chân thành, nó sẽ trở thành hiện thực. Bạn càng có niềm tin mãnh liệt là một điều gì đó sẽ trở thành hiện thực thì điều đó càng dễ trở thành hiện thực. Thật sự tin tưởng vào một điều gì đó nghĩa là bạn không thể tưởng tượng được nó sẽ trở thành một cái gì đó khác. Niềm tin chính là bộ lọc lựa chọn thông tin và chỉ lối cho mọi hành động. Bạn không nhất thiết phải tin những gì mình thấy, nhưng bạn thường có xu hướng thấy những gì bạn đã tin. Bạn cũng thường loại bỏ những thông tin trái ngược với những gì bạn đã tin tưởng mà không xem xét liệu niềm tin và thành kiến của bạn có dựa trên sự thật khách quan hay chỉ là cảm nhận chủ quan. Ví dụ, nếu bạn tin tưởng tuyệt đối rằng bạn sẽ đạt được thành công lớn trong cuộc sống, sau đó dù điều gì xảy ra cũng không quan trọng, bạn sẽ tiếp tục tập trung vào mục tiêu của bạn. Không gì có thể ngăn cản bạn được. Mặt khác, nếu bạn tin tưởng rằng thành công là do may mắn hay tình cờ, thì bạn sẽ dễ dàng trở nên chán nản và thất vọng khi mọi việc không diễn ra như bạn mong muốn. Niềm tin của bạn sẽ quyết định việc bạn thành công hay thất bại. Niềm tin vào bản thân Nhìn chung, mọi người có một trong hai thế giới quan. Một là thế giới quan tích cực. nếu bạn có quan điểm thế giới nhân đạo thì nói chung, bạn tin tưởng rằng thế giới là một nơi tốt đẹp hiền hòa. Bạn có xu hướng quan sát những điều tốt đẹp trong mỗi con người, mỗi hoàn cảnh và tin tưởng rằng có rất nhiều cơ hội xung quanh bạn. Bạn tin tưởng vào tương lai, vào bản thân và người khác. Về cơ bản, bạn có thái độ lạc quan. Hai là thế giới quan tiêu cực. Một người có thế giới quan tiêu cực về cơ bản là bị động và có thái độ bi quan đối với chính bản thân họ và cuộc sống. Người đó tin rằng “Những người giàu sẽ ngày càng giàu hơn, những người nghèo sẽ ngày càng nghèo đi” và, cho dù bạn có làm việc chăm chỉ như thế nào thì bạn cũng vẫn không thể phát triển. Kiểu người này chỉ nhìn thấy sự bất công, áp bức và bất hạnh ở khắp nơi. Khi những điều không hay xảy ra với họ, như vẫn thường thế, họ đổ lỗi cho sự kém may mắn và cho người khác. Họ nghĩ mình là nạn nhân. Vì thái độ này mà họ không thật sự yêu quý hay tôn trọng bản thân họ. Những người có thái độ lạc quan thường hoạt bát, vui vẻ. Với họ, thế giới là một vùng đất tốt đẹp, tươi sáng. Tuy nhiên, chướng ngại tinh thần lớn nhất mà bạn phải vượt qua là những thứ còn chứa trong niềm tin của bạn. Chúng hạn chế bạn trên một số mặt. Chúng kéo bạn trở lại bằng cách ngăn chặn sự cố gắng của bạn. Chúng thường xuyên làm bạn chứng kiến những điều không có thật. Thành kiến nghĩa là vội vàng đánh giá, đi đến kết luận trái ngược với bất kỳ thông tin nào, hoặc thậm chí bất chấp thông tin. Để thành công, bạn cần thiết biết kiềm chế việc đánh giá con người hay hoàn cảnh cho đến khi có đầy đủ thông tin. Quan trọng hơn hết, bạn phải kiềm chế vội vàng xét đoán bản thân cũng như những suy nghĩ có tính chất “thu hẹp”. Điều này thường xảy ra khi bạn nghĩ rằng mình kém cỏi, không có năng lực, không giỏi giang như những người khác cũng chính là lúc bạn đang để bản thân rơi vào cái bẫy thông thường là tự chấp nhận những mục tiêu thấp hơn rất nhiều so với khả năng thực tế của mình. Bạn có thể cảm nhận rằng mình không thông minh lắm bởi lực học ở trường của bạn chỉ đạt mức trung bình. Bạn tin rằng bạn thiếu khả năng sáng tạo, hoặc trong khả năng học và ghi nhớ. Bạn cảm thấy mình chưa thật sự thân thiện, luôn lo lắng về tiền bạc. Một số người cảm thấy không thể giảm cân, bỏ thuốc hay thích người khác giới. Việc “thu hẹp bản thân” này cũng giống như những chiếc phanh kìm hãm tiềm năng và tạo ra hai kẻ thù lớn nhất cho sự thành công sự hoài nghi và sợ hãi. Chúng làm bạn ngại đón nhận sự mạo hiểm có tính thử thách, vốn rất cần thiết để bạn thể hiện đúng năng lực của mình. Vì vậy, bạn cần phải kiên quyết loại bỏ bất kỳ suy nghĩ hay ý kiến “thu hẹp” nào và trong mọi trường hợp, hãy tin rằng những gì người khác làm được thì bạn cũng làm được. Sự thật là không ai tài giỏi hơn hay thông minh hơn bạn. Nếu có, phần lớn đó là những người biết cách phát triển khả năng và tài năng thiên bẩm của mình nhiều hơn bạn mà thôi. Họ đã tìm hiểu Quy luật Nhân quả và sớm áp dụng vào cuộc sống cũng như công việc. Trong phạm vi nhất định, bạn cũng có thể làm được bất kỳ điều gì mà những người đó đã làm, chỉ cần bạn có lòng nhiệt thành và sự ham học hỏi. Nhưng dù bạn tin vào điều gì, nếu niềm tin đó mãnh liệt, nó sẽ trở thành hiện thực. Thậm chí, nếu niềm tin của bạn là sai, nhưng nếu bạn tin tưởng vào những điều đó thì chúng cũng có thể trở thành hiện thực. Đa số niềm tin tự giới hạn của bạn hoàn toàn không đúng. Chúng dựa trên cơ sở thông tin bị động mà bạn đã tin và chấp nhận như là sự thật. Và khi bạn chấp nhận, niềm tin của bạn sẽ biến nó trở thành hiện thực. Giống như Henry Ford đã nói “Dù bạn tin rằng bạn có thể, hoặc bạn tin bằng bạn không thể, thì bạn vẫn luôn đúng”. Còn bây giờ chúng ta cùng bàn về “trách nhiệm bản thân” Bạn bị điểm thấp trong lớp, bạn đổ lỗi cho giáo viên dạy dỡ Bạn đi làm trễ, bạn đỗ lỗi là do kẹt xe Bạn không đạt chỉ tiêu trong công việc, bạn đỗ lỗi do không có cơ hội Bạn bị công an phạt vì tội vượt đèn đỏ bạn nói là do có công chuyện bận Những việc như đổ lỗi, tạo lý do là những biểu hiện của hiện tượng phổ biến trong con người không có khả năng chịu trách nhiệm cho bản thân. 1. Chịu trách nhiệm cho bản thân là gì và lợi ích của việc này? Để làm rõ từng khía cạnh của việc chịu trách nhiệm bản thân, trước hết chúng ta phải phân tích việc không muốn chịu trách nhiệm bản thân. Trong mỗi người luôn có cái tôi. Ai cũng muốn mình là người quan trọng và phải được tôn trọng. Từ đó chúng ta hình tượng hóa bản thân của chính mình. Chính việc từ đề cao bản thân đã dẫn đến việc chối bỏ trách nhiệm và khiến con người chúng ta bị lệch lạc và không thể nhận lấy lỗi lầm của chính mình. Chúng ta cảm thấy thật khó chịu khi phải nhận lỗi về phía mình. Để cho bản thân cảm thấy dễ chịu hơn, chúng ta thường hay đỗ lỗi cho người khác. Suy nghĩ của chúng ta quá chủ quan và không suy xét được mọi khía cạnh của vấn đề. Và từ đó chúng ta luôn sợ hãi trước việc chịu trách nhiệm cho bản thân. Nỗi sợ hãi là nguyên nhân chính dẫn đến việc mất khả năng chịu trách nhiệm cho bản thân. Những người không dám chịu trách nhiệm cho bản thân thường hay cho rằng nếu mình đồng ý nhận lỗi về phía mình thì bản thân sẽ tỏ ra yếu kém, bất lực và đánh mất sự tôn trọng từ người khác. Họ nghĩ rằng giá trị bản thân sẽ bị hạ thấp. Tuy nhiên, hoàn toàn ngược lại, có khả năng chịu trách nhiệm cho bản thân sẽ cho bạn cơ hội hoàn thiện bản thân rất lớn. Con người chúng ta không ai là hoàn hảo cả. Chúng ta đều ít nhất một lần trong đời mắc sai lầm. Khi chúng ta đã có thể tự chịu trách nhiệm cho bản thân, chúng ta đã nhìn thấy được điểm yếu trong con người của chính mình và từ đó có thể cải thiện bản thân. Trách nhiệm bản thân chính là thước đo giá trị, lòng dũng cảm và sức mạnh của bản thân. Chính việc tự chịu bản thân sẽ giúp bạn cải thiện và hoàn thiện bản thân và gặt hái được nhiều thành công trong cuộc sống. Giữa một người thường hay đỗ lỗi cho kẻ khác và một người luôn chịu trách nhiệm cho lời nói và hành động của chính mình và không thích đổ lỗi, sự tôn trọng của bạn sẽ nghiêng về ai? Ý thức được trách nhiệm bản thân cũng chính là lúc bạn đã thật sự trưởng thành. Ý thức trách nhiệm – Không đỗ lỗi 2. Tác hại của việc thiếu ý thức trách nhiệm cho bản thân Khi bạn thiếu đi trách nhiệm cho bản thân thì tất nhiên bạn sẽ phải chịu hậu quả cho hành động của bạn trong một thời gian dài. Hậu quả đau đớn nhất là bạn sẽ không thể nào có được một mối quan hệ tốt đẹp với mọi người xung quanh. Mâu thuẫn sẽ càng nảy sinh với mọi người xung quanh. Lòng ghen ghét, đố kị trong lòng bạn lớn lên dần dần. Chính vì bạn đặt bản thân của mình lên trên hết tất cả mọi người, những người xung quanh đều bé nhỏ trong mắt của bạn và bạn trở thành một con người không biết bao dung và khoan nhượng. Thái độ này sẽ biến bạn thành nỗi khó chịu trong mắt của người khác. Mối quan hệ của bạn sẽ còn tồi tệ dài dài nếu bạn không nhận ra được điều này. Nếu bạn không chịu trách nhiệm cho bản thân, bạn sẽ chỉ sống trong nỗi lo sợ của chính mình. Bạn sẽ đặt dấu hỏi cho năng lục thật sự của mình và sự tự tin, niềm tin sẽ bị suy giảm nghiêm trọng. Và chuyện gì đến cũng phải đến. Bạn cần một cái gì đó bám lấy không để cho giá trị của mình bị tụt xuống. Bạn biện hộ cho từng lời nói, cử chỉ và hành động của mình. Dần dần suy nghĩ của bạn sẽ quen dần với việc không chịu trách nhiệm đối với bản thân. Thái độ này sẽ trở thành một phần khó sửa trong tính cách của bạn. Không chịu trách nhiệm của bản thân sẽ làm gián đoạn quá trình trưởng thành của bạn. Bạn sẽ trở thành một kẻ hay bỏ cuộc, dựa dẫm vào người khác, phá bỉnh và không bao giờ có được hy vọng hay sống một cuộc sống nhạnh phúc đúng nghĩa. Và việc tự hoàn thiện bản thân sẽ không bao giờ xảy ra với thái độ thiếu trách nhiệm bản thân. 3. Đâu là nguyên nhân gây ra việc thiếu ý thức trách nhiệm đối với bản thân? Mất đi khả năng chịu trách nhiệm bản thân xuất phát từ ý thức của mỗi người. Có 3 cách suy nghĩ dẫn đến việc không còn khả năng nhận biết được trách nhiệm của bản thân mình Nỗi sợ hãi một số người từ nhỏ đã bị những tổn thương không thể nào bù đắp được. Có thể họ bị đánh đập, chửi mắng không thương tiếc. Còn có người thị từ nhỏ sống trong một xã hội đầy bất công. Có thể họ được sinh ra ở trong những gia đình nghèo khổ. Cũng có người bị thiếu thốn tình cảm từ nhỏ. Họ thiếu đi sự quan tâm chăm sóc từ cha mẹ. Dần đến họ lúc nào cũng cảm thấy thiếu thốn sự quan tâm từ mọi người. Những môi trường sống như thế này sẽ khiến chúng ta đánh mất niềm tin và giá trị của bản thân mình. Sự hống hách Trong bản tính của chúng ta luôn đi kèm sự hống hách. Vấn đề chỉ là có một số người không chế được bản ngã này và một số người không kiềm chế được. Cá tính này có thể là do di truyền. Một số người thì tự tin thái quá dẫn đến họ luôn nghĩ mình là trung tâm của vũ trụ và luôn luôn cho rằng không bao giờ mình phạm sai lầm. Còn một số thành phần khác thì luôn luôn tỏ ra thiếu tự tin và yếu đuối. Họ phải chà đạp người khác để che lấp những điểm yếu đó. Định kiến Những người từng bị phân biệt đối xử thường luôn sống trong sự đề phòng đối với thế giới bên ngoài. Họ không thể nào tìm kiếm được sự công nhận từ người khác và có cảm giác như mọi người đang cố tình ngăn chặn sự tiến bộ của họ. Chính tâm lý này dìm chết sự tự tin trong suy nghĩ và khiến họ không thể nào chịu trách nhiệm cho bản thân mình. Bạn không thể thoát khỏi trách nhiệm ngày mai nếu cứ lẫn trốn nó hôm nay 4. Làm thế nào để chịu trách nhiệm bản thân Nếu bạn đã từng một lần nhận lỗi thì hãy suy nghị về khoảng thời gian đó? Điều đó có thật sự khó khăn như bạn nghĩ không? Thay vào đó, bạn có thấy lợi ích của việc làm này không? Với việc chấp nhận bạn có một số vấn đề cần cải thiện là bạn đã tiến bộ trong việc tự hoàn thiện bản thân. Bạn sẽ cảm thấy cuộc sống của bạn thật tốt đẹp. Tự ý thức bản thân rằng đỗ lỗi cho người khác là điều không thể. Hãy thật sự công bằng trong đánh giá của chính mình. Hãy nghĩ rằng phạm sai lầm giống là một phần trong cuộc sống. Cũng giống như bạn không thể không ăn cơm hay uống nước. Sự khác biệt giữa người thành công và người thất bại là người thất bại, thất bại chưa đủ. Bạn sẽ không đánh mất sự tôn trọng từ mọi người. Ngược lại giá trị của bạn cũng được tăng lên vì bạn đã dám thẳng thắn thừa nhận lỗi của mình. Nâng cao lòng tự trọng của bản thân mình. Khi bạn đã có được niềm tin vào bản thân thì bạn đã nhận ra được giá trị thật của chính mình. Vì vậy, bạn không cần phải biến mình thành một ai đó khác. Hãy là chính mình. Tự tin vào chính mình. Khi bạn đã trở nên tự tin, bạn sẽ không cần phải biện hộ khi phạm sai lầm. Dần dần bạn sẽ có thể nhận ra được hành động của chính mình và chịu trách nhiệm cho hành động ấy. Hãy mở lòng với tất cả mọi người. Luôn luôn ghi nhớ quy luật cho và nhận. Hãy cảm nhận được sự cảm thông và lòng thương người. Điều này sẽ giúp bạn tránh được việc hình tượng hóa bản thân. Xua tan đi nỗi sợ hãi. Nỗi sợ hãi sẽ khiến chúng ta không làm chủ được hành động của chính mình và thường hay dựa dẫm vào đánh giá và cảm xúc của người khác. Đừng nghĩ mình là nạn nhân vì như vậy sẽ làm cho chúng ta không nhận ra được lỗi lầm của mình. Học cách là một người chiến thắng, nghĩa là phải làm chủ được hành vi và cảm xúc của chính bản thân mình. Gắn liền khía cạnh tâm linh với cuộc sống của mình. Dù là đạo chúa hay đạo phật cũng đều dạy cho người làm việc thiện, trách làm điều ác, gạt bỏ cái tôi và trở nên thánh thiện hơn. “Ý thức chịu trách nhiệm bản thân chính là thước đo giá trị của một người đàn ông” – Roy L. Smith “Ý thức chịu trách nhiệm bản thân chính là thước đo giá trị của một người, không phân biệt đàn ông hay phụ nữ !” Trần Ngọc Chính Bài viết được sưu tầm, tổng hợp và viết lại theo suy nghĩ cá nhân của Chính.
Eu não quero mais chorarNem quero mais saber de sofrerHá tanta coisa bonita na vida, meu irmãoAlimentando meu coraçãoEu vou aproveitar a gostosura desta festaMe lambuzar inteira na doçura deste melFortalecer meus passos e os abraços dos amigosA salvo dos perigos dobrar novas esquinasRebrilha a grande estrela do meu céuSerá o meu caminho o caminho desta luzA luz da harmonia, a luz da alegriaQue eu guardei pro meu amorTudo bem, tudo em paz, inda vai melhorarA longa noite foi pra boca da manhãO que foi já se foi, quero o que seráToda delícia de viver trancham
Từ khi mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, các thế lực thù địch tăng cường sử dụng các âm mưu, thủ đoạn để chống phá chế độ chính trị - xã hội ở nước ta, mà một trong những chiêu bài mà chúng thường sử dụng đó là vấn đề dân chủ, nhân quyền. Với sự chống phá đó, cùng với nhận thức không đầy đủ nên một bộ phận người dân bị các thế lực thù địch kích động, lợi dụng dân chủ để yêu cầu, đòi hỏi không chính đáng, không đúng pháp luật, coi thường kỷ cương, phép nước. Trước thực tế đó, cần nhận thức đúng đắn về dân chủ để không mắc mưu sự lợi dụng của các thế lực thù địch. Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động tăng cường các hoạt động tuyên truyền, phủ nhận các giá trị lý luận và thực tiễn về dân chủ và nhân quyền ở nước ta. Họ phê phán, bác bỏ những giá lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta nhằm xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa XHCN. Họ núp dưới chiêu bài “dân chủ hóa”, hình thành “kênh phản biện” để cho ra đời các tổ chức đối trọng với các cơ quan, tổ chức trong bộ máy của Đảng, Nhà nước, đòi giám sát hoạt động của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội. Đồng thời, lợi dụng các diễn đàn tư tưởng, thông qua hoạt động hợp tác, nghiên cứu khoa học,... để tuyên truyền về “xã hội dân sự”, đề cao dân chủ tư sản, nhằm chuyển hóa lập trường, tư tưởng của đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân. Với sự phê phán, xuyên tạc của các thế lực thù địch, cùng với sự nhận thức không đầy đủ nên một bộ phận người dân bị các thế lực thù địch lợi dụng, kích động, lôi kéo tham gia biểu tình, gây rối, tụ tập đông người, gây mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội, vi phạm pháp luật... Do vậy, cán bộ, đảng viên, nhân dân ta cần nhận thức rõ ràng và đầy đủ lý luận và thực tiễn về dân chủ ở Việt Nam để có thái độ, hành động đúng đắn. 1. Về mặt lý luận Thuật ngữ dân chủ xuất hiện từ thời cổ đại, vào khoảng thế kỷ thứ V trước công nguyên tại Hy Lạp. Theo tiếng Hy Lạp cổ, “dân chủ” được viết là Demoskratos, trong đó Demos là nhân dân và Kratos là cai trị. Theo cách diễn đạt này, dân chủ được hiểu là nhân dân cai trị, sau này được các nhà chính trị dịch giản lược là quyền lực nhân dân hay quyền lực thuộc về nhân dân. Đến thế kỷ XVIII, người Anh đã dựa vào ngôn ngữ Hy Lạp cổ để đưa ra thuật ngữ “democracy”, có nghĩa là “chính thể dân chủ” - thể chế dân chủ, một trong những hình thức chính quyền với đặc trưng là chính quyền nhà nước phải thừa nhận quyền tự do, bình đẳng của công dân. Điều này có nghĩa là dân chủ là chính thể nhà nước thừa nhận quyền tự do, bình đẳng của nhân dân. Chế độ dân chủ là chế độ xã hội đối lập với chế độ chuyên chế, được ra đời đầu tiên trong thời kỳ cổ đại, đó là chế độ nền dân chủ chủ nô gắn với nhà nước dân chủ Athens. Tuy nhiên, nó chỉ trở thành “đúng nghĩa” khi giai cấp tư sản đấu tranh lật đổ chế độ phong kiến thiết lập chế độ dân chủ tư sản. Chế độ dân chủ tư sản được xác lập là chế độ chính trị, trong đó nhân dân thực hiện quyền lực của mình không thông qua cơ quan trung gian gọi là dân chủ trực tiếp, hoặc thông qua cơ quan trung gian gọi là dân chủ đại diện. Trong “Tuyên ngôn độc lập” của nước Mỹ và “Tuyên ngôn dân quyền và nhân quyền” của nước Pháp đã khẳng định nội dung của chế độ dân chủ, thể hiện bước phát triển to lớn của nhân loại về mặt xã hội. Như Mác nói so với chế độ quân chủ phong kiến, dân chủ tư sản ra đời là một bước tiến lớn của nhân loại. Tuy nhiên, để bảo vệ quyền thống trị về chính trị, kinh tế, giai cấp tư sản thẳng tay sử dụng chuyên chính để đàn áp các cuộc đấu tranh của công nhân và nhân dân lao động, mặc dù hiện nay giai cấp tư sản có sự điều chỉnh để tồn tại nhưng cũng vẫn “bị giới hạn trong khuôn khổ chật hẹp của sự bóc lột tư sản, thực ra, nó chỉ là chế độ dân chủ đối với thiểu số mà thôi”1. Còn trong chế độ dân chủ XHCN, mà dự báo “dân chủ gấp triệu lần dân chủ tư sản” là sự kế tục giá trị đó từ nền dân chủ tư sản, phát triển lên trên cơ sở chính trị - xã hội mới. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, bản chất của nền dân chủ XHCN là toàn bộ quyền lực thuộc về nhân dân trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, luôn hướng con người vươn đến cái tự do và sáng tạo. Trong quá trình phát triển cách mạng XHCN, dân chủ trở thành giá trị phổ biến, thâm nhập vào mọi quan hệ xã hội, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội để tạo ra đầy đủ các điều kiện cho sự giải phóng mọi năng lực sáng tạo của con người để “sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”2. Quyền lực, tự do, sáng tạo đó được đảm bảo và thực hiện thông qua Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Nhà nước pháp quyền XHCN tất yếu phải kế thừa từ các hình thức nhà nước pháp quyền đã có trong lịch sử những yếu tố còn giá trị, phù hợp với xu thế phát triển xã hội. Nhà nước pháp quyền XHCN luôn hướng đến việc trao quyền làm chủ xã hội thực sự cho nhân dân, quyền và trách nhiệm làm chủ công việc, lĩnh vực, sứ mệnh của mình, đưa mỗi con người với tư cách thành viên xã hội trở về đúng vị trí của bản thân. Đó chính là đem lại sự phù hợp giữa lý tưởng chân chính và sáng tạo chân chính. Kế thừa và phát triển quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cao vị trí, vai trò của dân chủ, là “chìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn”3. Người khẳng định “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân”4. Người cho rằng, dân chủ là phải làm sao cho người dân có quyền làm chủ, có điều kiện làm chủ, biết sử dụng quyền làm chủ của mình. Để thực hiện dân chủ XHCN, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh thì dân chủ phải gắn liền với pháp luật, kỷ cương, kỷ luật. Người nhấn mạnh, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước phải mang ý nghĩa pháp lý, đạo lý và đạo nghĩa lớn nhất; phải tỏ rõ sự quang minh chính đại, chính tâm và thân dân để tiến tới dân chủ. Đó chính là tinh thần trọng dân và trọng pháp. Muốn vậy, phải xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, thông qua thực thi pháp luật để bảo đảm cho nhân dân là chủ thể thực sự của quyền lực chính trị, thực hiện chuyên chính với mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và nhân dân. Trên cơ sở tiếp thu, kế thừa quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ, Đảng ta khẳng định “Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước”5. Dân chủ XHCN là nền dân chủ trong đó tất cả quyền lực thuộc về nhân dân. Điều này không chỉ thể hiện trong Hiến pháp, Cương lĩnh và các văn bản quy phạm pháp luật, mà còn được thể hiện sinh động trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đảng, Nhà nước ta luôn nỗ lực phát huy mạnh mẽ quyền dân chủ của người dân trong hoàn thiện và thực thi pháp luật, cơ chế, chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH bổ sung, phát triển năm 2011 đã xác định dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh và do nhân dân làm chủ là đặc trưng của xã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựng; xây dựng nền dân chủ XHCN là một trong những phương hướng cơ bản cho việc thực hiện mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Đảng ta đã khẳng định “Mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước phải xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, được nhân dân tham gia ý kiến. Dân chủ phải được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Bảo đảm để nhân dân tham gia ở tất cả các khâu của quá trình đưa ra những quyết định liên quan đến lợi ích, cuộc sống của nhân dân, từ nêu sáng kiến, tham gia thảo luận, tranh luận đến giám sát quá trình thực hiện”6. Đặc biệt, Hiến pháp năm 2013 đã quy định “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân”, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và phải được thể chế hóa quyền lực đó bằng pháp luật, được pháp luật bảo hộ. Quyền con người, quyền công dân được công nhận, tôn trọng, bảo vệ theo pháp luật; gắn quyền công dân với nghĩa vụ và trách nhiệm đối với xã hội. Như vậy, mặt phương diện lý luận, chế độ dân chủ XHCN nói chung và ở Việt Nam nói riêng được ra đời, phát triển dựa trên nền tảng, giá trị của các nền dân chủ trước đó, hơn nữa được thực hiện thông qua Nhà nước pháp quyền XHCN với bản chất là thực hiện quyền làm chủ của nhân dân với ý nghĩa đúng nhất, đầy đủ và tiến bộ nhất. 2. Về mặt thực tiễn Mô hình XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu đã sụp đổ, nhưng không vì thế mà phủ nhận những thành tựu to lớn về thực hiện dân chủ, thực hiện quyền làm chủ của nhân dân mà các nước theo chế dân chủ XHCN mang lại, trong đó có Việt Nam. Từ khi thành lập đến nay, Đảng, Nhà nước ta luôn chú trọng việc xây dựng, phát huy dân chủ và đạt được nhiều thành tựu quan trọng, có ý nghĩa to lớn. Dân chủ trong hệ thống chính trị và toàn xã hội không ngừng được mở rộng; quyền làm chủ của nhân dân ngày càng được bảo đảm phát huy trong thực tế. Phương thức hoạt động của Đảng không ngừng được đổi mới, hoàn thiện, nhờ đó dân chủ trong Đảng ngày càng được nâng cao; sự tham gia của các tổ chức cơ sở đảng và đảng viên vào việc hoạch định, triển khai thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng ngày càng mở rộng và có hiệu quả. Nhà nước pháp quyền XHCN không ngừng được xây dựng, hoàn thiện nhằm bảo đảm mọi quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Quyền lực nhà nước là thống nhất, nhưng có sự phân công, kiểm soát và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Hoạt động của Quốc hội ngày càng dân chủ, công khai; hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn tại các kỳ họp của Quốc hội, HĐND ngày càng cao. Nền hành chính quốc gia không ngừng được cải cách. Hệ thống pháp luật ngày càng được hoàn thiện nhằm bảo đảm thực hiện quyền làm chủ của nhân dân. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội không ngừng đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, phát huy vai trò giám sát và phản biện xã hội, đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân. Thực hiện dân chủ ở cơ sở đã tạo điều kiện cho các tầng lớp nhân dân được tham gia chính kiến, quan điểm vào quá trình xây dựng, hoạch định và giám sát việc thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật được coi trọng. Quyền khiếu nại, tố cáo của nhân dân được bảo đảm thực hiện trên thực tế; việc giải quyết các vụ việc khiếu nại, tố cáo của người dân ngày càng hiệu quả và kịp thời hơn. Trong thời gian qua, cả hệ thống chính trị đã vào cuộc đấu tranh chống tham nhũng, xử lý nghiêm minh các cá nhân tham nhũng, hối lộ; kiên quyết đưa ra khỏi tổ chức đảng, bộ máy nhà nước những cán bộ, đảng viên yếu tài, kém đức. Đảng ta khẳng định “không có vùng cấm, không có ngoại lệ” trong đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực, người nào vi phạm đều bị xử lý nghiêm minh theo pháp luật, không loại trừ bất kỳ ai. Để nâng cao đời sống nhân dân, trong những năm qua Đảng, Nhà nước chú trọng phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện an sinh xã hội, đặc biệt là đối với đồng bào dân tộc thiểu số, nhân dân vùng sâu, vùng xa. Việt Nam đã hoàn thành chỉ tiêu xóa đói, giảm nghèo trước thời hạn so với Mục tiêu thiên niên kỷ của Liên hợp quốc. Thời gian qua, Nhà nước ta đã thực hiện tốt các khuyến nghị của Liên hợp quốc về nhân quyền theo cơ chế UPR chu kỳ 2, nhằm đảm bảo quyền con người trên các lĩnh vực của đời sống xã hội tốt hơn, như Nhà nước bảo đảm cho nhân dân các quyền cơ bản tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tự do sáng tạo, quyền được thông tin, quyền đóng góp ý kiến xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, quyền thảo luận và biểu quyết những vấn đề quan trọng ở khu dân cư. Nhân dân có quyền thảo luận và giám sát các dự án về an sinh xã hội, về xóa đói, giảm nghèo, về hỗ trợ do thiên tai... Để tạo hành lang pháp lý cho phát huy dân chủ trong lĩnh vực văn hóa - xã hội, Nhà nước đã ban hành các đạo luật, như Luật Báo chí, Luật Xuất bản, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Bảo hiểm y tế, Pháp lệnh Ưu đãi người có công... Nhờ đó đã phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong sinh hoạt văn hóa tinh thần, trong hoạt động xã hội, tạo điều kiện cho nhân dân được hưởng thụ những thành quả của văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Ngoài ra, trong hoạt động nghiên cứu khoa học, môi trường dân chủ có bước tiến, tạo điều kiện cho các nhà khoa học tự do tư tưởng, thảo luận, phản biện, phát huy tính sáng tạo của mình, đóng góp vào các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, vào các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội. Việc phát huy dân chủ ở nước ta trong thời gian qua đã và đang tạo động lực thúc đẩy, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, khắc phục tệ nạn quan liêu, tham nhũng, xa rời nhân dân của một bộ phận cán bộ, đảng viên; góp phần tích cực vào việc cải cách hành chính, xây dựng bộ máy chính quyền các cấp trong sạch, vững mạnh; tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân. Điều đó không chỉ được khẳng định trong chủ trương, đường lối của Đảng mà còn được bảo đảm thực hiện bằng pháp luật trên thực tế. Cũng cần thẳng thắn nhìn nhận, việc xây dựng và phát huy dân chủ ở nước ta vẫn còn những hạn chế, bất cập, cụ thể như vấn đề dân chủ trong Đảng chưa được thực hiện đầy đủ, vẫn còn tình trạng dân chủ hình thức. Nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng và Nhà nước vẫn còn bị hiểu sai lệch, tình trạng thiếu dân chủ trong Đảng thường đi đôi với việc lãnh đạo, quản lý độc đoán, chuyên quyền. Tình trạng dân chủ không gắn với kỷ luật, kỷ cương, nói không đi đôi với làm, nói nhiều làm ít vẫn đang diễn ra; chấp hành nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước chưa nghiêm. Còn nhiều vi phạm trong việc thực hiện chế độ tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Vị trí, trách nhiệm người đứng đầu tổ chức đảng, chính quyền quy định chưa rõ ràng, thực hiện chưa nghiêm dẫn đến tình trạng “tranh công đổ lỗi”, thành tích thì cá nhân nhận về mình, khuyết điểm thì đổ cho tập thể. Tình trạng quan liêu, hách dịch trong bộ máy hành chính làm cho yêu cầu quản lý các quá trình kinh tế - xã hội và phát huy quyền làm chủ của nhân dân chưa có hiệu quả cao. Cải cách hành chính, đặc biệt là thủ tục hành chính chưa đạt yêu cầu đề ra, còn gây phiền hà cho tổ chức và công dân. Phương thức tổ chức, phong cách hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội về cơ bản vẫn chưa thoát khỏi tình trạng quan liêu, chưa sâu sát các tầng lớp nhân dân và cơ sở; cán bộ của nhiều đoàn thể chính trị - xã hội vẫn trong tình trạng “hành chính hóa”. Dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp còn nhiều biểu hiện thiếu thực chất, chưa phát huy tốt vai trò của mình… Những hạn chế yếu kém nêu trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau. Một là, dân chủ với tư cách là một vấn đề chính trị do trình độ phát triển kinh tế quy định. Hiện nay, ở nước ta mới thực hiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, chưa hoàn thiện, trình độ phát triển kinh tế còn thấp, hạn chế đến sự phát triển dân chủ. Hai là, nước ta quá độ đi lên CNXH bỏ qua phát triển tư bản chủ nghĩa, bỏ qua giai đoạn dân chủ tư sản nên nhân dân ta còn hạn chế về ý thức và năng lực thực hành dân chủ, chưa có một nền văn hóa dân chủ ở mức cần thiết, chưa có thói quen tuân thủ pháp luật, nên dễ rơi vào cực đoan. Ba là, Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân mới đang từng bước được xây dựng, hoàn thiện nên hệ thống pháp luật còn thiếu và chưa đồng bộ. Để thực thi dân chủ, thực hiện quyền làm chủ của nhân dân thì chúng ta còn thiếu các cơ chế, quy chế, thiết chế. Bốn là, tác động của mặt trái kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế; các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền, lợi dụng những sơ hở, thiếu sót để chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN. Nhiều cấp ủy đảng, cơ quan, cán bộ, đảng viên chưa thực sự là tấm gương về thực hành dân chủ trong xã hội. 3. Một số giải pháp nhằm phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa Thứ nhất, thực hiện tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cho nhân dân, đặc biệt ở những vùng sâu, vùng xa, nơi còn nhiều hạn chế trong việc tiếp cận những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ, dân chủ XHCN. Tuyên truyền, giáo dục để nhân dân hiểu sâu sắc hơn về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng và thực hành dân chủ trong quá trình xây dựng CNXH. Chú trọng tuyên truyền các gương điển hình, mô hình tốt về xây dựng và thực hiện dân chủ ở cơ sở. Các cơ quan truyền thông cần đưa tin, bình luận khách quan, trung thực, đúng bản chất vấn đề, sự việc, định hướng đúng dư luận xã hội. Thứ hai, tăng cường phát huy vai trò của hệ thống chính trị trong việc tổ chức, thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, làm cho mọi người dân Việt Nam, dù sống và làm việc ở đâu đều luôn hướng về Tổ quốc, dù hoạt động trên bất cứ lĩnh vực nào cũng ý thức đầy đủ về quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm trong việc thực hiện tốt dân chủ, trong xây dựng và phát huy nền dân chủ XHCN, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Tiếp tục bổ sung, hoàn thiện chính sách, pháp luật về dân chủ và xây dựng nền dân chủ XHCN. Các tổ chức trong hệ thống chính trị cần có cơ chế vận hành đồng bộ, thống nhất trong triển khai, thực hiện, trong quản lý, điều hành việc thực hiện dân chủ. Đối với các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước, việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở phải tạo môi trường thuận lợi để cán bộ, công chức, người lao động phát huy năng lực, trí tuệ, nâng cao trách nhiệm tham gia vào hoạch định cơ chế, chính sách, tham gia giải quyết những vướng mắc, khó khăn trong hoạt động, sản xuất kinh doanh. Hệ thống chính trị phải là người đại diện, điểm tựa để nhân dân phát huy quyền làm chủ của mình. Thứ ba, chú trọng phát triển kinh tế - xã hội ở cấp xã, đặc biệt là những nơi còn nhiều khó khăn, kém phát triển; có chính sách cụ thể nhằm phát huy tinh thần tự chủ trong sản xuất và phát triển kinh tế gia đình; có chủ trương chuyển đổi cơ cấu kinh tế hợp lý, phù hợp với điều kiện của từng địa phương; tăng cường ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp. Tạo điều kiện thuận lợi và giúp các nhà đầu tư, doanh nghiệp triển khai các dự án tại địa phương; xây dựng và mở rộng nhiều mô hình xây dựng nông thôn mới thiết thực, hiệu quả; đẩy mạnh xã hội hóa và nâng cao chất lượng giáo dục, y tế, văn hóa, môi trường; thực hiện có hiệu quả các giải pháp bảo đảm an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo, an ninh - trật tự. Giải quyết kịp thời những nguyện vọng chính đáng của nhân dân, thực hiện tốt phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, làm cho mọi người dân cảm nhận được địa vị và quyền lợi về dân chủ một cách thực sự. Thứ tư, bằng những phương thức và biện pháp thích hợp, hiệu quả để đấu tranh vạch trần những âm mưu, thủ đoạn nham hiểm, thâm độc của các thế lực thù địch xuyên tạc, bóp méo, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về dân chủ; về bản chất của chế độ, bản chất nền dân chủ XHCN và những thành tựu về thực hiện, phát huy dân chủ mà chúng ta đã giành được trong quá trình xây dựng CNXH. Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động đang lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền để chống phá cách mạng nước ta một cách tinh vi. Để tránh mắc phải âm mưu của các thế lực thù địch, chúng ta phải nhận thức đúng đắn, khoa học bản chất chế độ dân chủ XHCN, nhận thức đúng đắn thực tiễn việc thực hiện dân chủ ở nước ta, những gì đã làm được, những gì còn hạn chế và nguyên nhân của nó, đặc biệt phải gắn với thời điểm, hoàn cảnh lịch sử cụ thể để có cái nhìn đúng đắn, tránh sự ảo tưởng trong nhận thức và hành động./. - Ghi chú 1 Toàn tập, tập 33, Nxb CTQG, - 107. 2 và Toàn tập, tập 4, Nxb CTQG, 3 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 15, Nxb CTQG, tr. 325. 4 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Nxb CTQG, 5 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần XI, Nxb CTQG, - 85. 6 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần XII, Nxb CTQG, TS. Trần Viết Quân, TS. Lê Văn Phục - Học viện Chính trị khu vực III, Học viện Chính trị quôc gia Hồ Chí Minh
trach nhiem ban than