Hội An. Côn Đảo. 1. Huế. Cố đô Huế từng là thủ đô quốc gia, trung tâm văn hoá và chính trị của Việt Nam, đồng thời cũng là cái nôi của nhiều truyền thống văn hoá Việt. Được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới, Huế là nơi lưu giữ kho tàng lịch sử giá trị, bao
Chùa Từ Hiếu được xây dựng từ Am An Dưỡng, TP.Huế. Sự tích chùa gắn với câu chuyện hiếu thảo của tổ sư khai sơn chùa là hòa thượng Nhất Định đối với mẹ già và sự gắn bó tu nghiệp cùng đệ tử. Danh nhân lịch sử; Đến Huế thăm chùa Từ Hiếu, nghe sự
Chùa Từ Hiếu. Chùa Từ Hiếu hay Tổ đình Từ Hiếu là tên một ngôi chùa ở thôn Dương Xuân Thượng III, phường Thủy Xuân. Chùa là một trong những ngôi cổ tự lớn và là một danh lam có tính văn hoá và lịch sử của cố đô Huế. Chùa Từ Hiếu nằm khuất trong một rừng thông
Chùa Từ Hiếu là một trong những ngôi chùa cổ đón khách du lịch trong và ngoài nước đông nhất cố đô Huế. Các vị Trú trì Tổ đình Từ Hiếu do nguyên "Tăng Cang Giác Hoàng Quốc Tự" tức Hoà thượng Nhất Ðịnh khai sơn , chùa trãi qua các đời trú trì:
Đại Nội Huế - Khám phá lịch sử chốn cung đình triều Nguyễn; Khám phá lăng Khải Định - vị vua "tân thời" nhất triều Nguyễn; Khám phá lăng Minh Mạng - lối kiến trúc đậm chất cổ điển; Viếng thăm chùa Thiên Mụ, linh thiêng nằm bên bờ sông Hương
Chùa Từ Hiếu nằm ở thôn Dương Xuân Thượng III, phường Thủy Xuân, TP Huế. Nơi đây cách trung tâm thành phố Huế khoảng 5km. Để tới đây, du khách có thể di chuyển bằng ô tô, xe máy cá nhân hay taxi đều được. Từ trung tâm thành phố Huế, du khách đi hết đường Điện
Trang thông tin và chia sẻ về du lịch, văn hóa, cuộc sống, do Phạm Hoài Nhân thực hiện. Chùa Từ Hiếu - Cảm nhận Việt Nam Tìm kiếm tất cả các trang web
8.-. Đạo tràng Tổ Đình Từ Đàm, thứ Năm ngày 17 tháng 11 năm 2022, (nhằm ngày 17 và 18 tháng 11 Nhầm Dần, tịnh tu cuối năm) 9.-. Đạo tràng Tu viện Thượng Hạnh : . . . . . ngày 15 tháng 12 năm 2022, Ghi Chú : Quý vị muốn rõ thêm chi tiết xin gọi về : (972) 986 - 1019, hoặc E-Mail
Cách Vay Tiền Trên Momo. Từ ngày 29/1 đến ngày 10/5, mời độc giả tham gia cuộc thi ảnh "Làng quê Việt Nam" do VnExpress và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam Agribank phối hợp tổ chức. Tác phẩm dự thi thể hiện dưới dạng file ảnh định dạng JPEG hoặc JPG, không lồng ghép thành dạng album, không để viền bo, bắn chữ hoặc logo của studio. Ảnh có chiều ngang dưới pixel. Dung lượng mỗi bức lớn hơn 0,3 MB nhưng không vượt quá 5 MB. Người dự thi gửi tối thiểu 3 ảnh kèm theo lời bình rõ ràng, dễ hiểu bằng tiếng Việt có dấu, font Unicode. Người dự thi gửi kèm thông tin cá nhân, bao gồm tên, năm sinh, chứng minh thư, địa chỉ và số điện thoại liên hệ Những thông tin này được bảo mật. Người gửi bài sẽ chịu trách nhiệm về tính xác thực của thông tin, tác phẩm dự thi phải đảm bảo chưa từng được đăng trên các phương tiện thông tin đại chúng khác. Ban tổ chức được quyền sử dụng các bài dự thi sau khi chương trình kết thúc mà không cần thông qua ý kiến của các tác giả. Mỗi tuần, Ban tổ chức sẽ chọn ra 4 bộ ảnh đẹp nhất để dự thi tháng do độc giả chọn dựa trên số điểm chấm trực tiếp. Từ đó, hàng tháng, ban tổ chức sẽ chọn ra 3 giải thưởng xuất sắc để trao thưởng, mỗi giải trị giá 2 triệu đồng phần chấm điểm của độc giả là một trong những yếu tố giúp Ban giám khảo chọn ra danh sách người đạt giải. Cuối chương trình, ban tổ chức và nhà tài trợ sẽ chọn ra 3 bộ ảnh xuất sắc để trao thưởng, mỗi giải trị giá 5 triệu dự thi gửi về ban biên tập VnExpress tại đây.
Chùa Từ Hiếu hay Tổ đình Từ Hiếu được xây dựng từ Am An Dưỡng tọa lạc tại thôn Dương Xuân Thượng 3 – xã Thủy Xuân – Chùa Từ Hiếu là một trong những ngôi cổ tự lớn và là một trong những ngôi chùa nổi tiếng của xứ Huế. Vị trí, lịch sử hình thành và quá trình phát triển Chùa Từ Hiếu nằm khuất trên một rừng thông tại núi Dương Xuân phường Thủy Xuân, thành phố Huế cách kinh thành 5km về phía Tây Nam. Chùa xây theo hướng Đông Nam lấy núi Ngự Bình làm tiền án. Diện tích khuôn viên khoảng ha, mật độ xây dựng chỉ 15% trên tổng diện tích. Chùa được xây dựng vào năm 1843, lúc đầu do Hòa thượng Tánh Thiên – Nhất Định1 xây thảo am An Dưỡng để tịnh tu và nuôi mẹ già khi ngài đã 60 tuổi. Khi đó vùng đất này là nơi núi rừng âm u, người ở thưa thớt, thú rừng hoang dã còn hoành hành.2 Ngài Nhất Định nổi tiếng là một người con có hiếu, được vua Tự Đức cảm phục nên ban cho “Sắc tứ Từ Hiếu tự”, cho nên cái tên Từ Hiếu gắn liền với chùa đến bây giờ. Tên gọi Từ Hiếu được vua Tự Đức ban ngay năm vừa lên ngôi gắn liền với câu chuyện hiếu thảo phụng dưỡng mẹ của Hòa thượng Nhất Định và cũng cùng với suy nghĩ, quan niệm luôn được nhà vua đề cao “mẫu từ tử hiếu” của Khổng giáo. Mặt khác, điều đó càng thêm ý nghĩa với sự giải nghĩa theo quan niệm Phật giáo của Thượng Thư Nguyễn Đăng Giai “Phù, Từ giả Phật chi đại đức dã, phi từ vô dĩ tiếp tử sinh, tế vạn loại; Hiếu giả Phật chi thủ hạnh dã, phi hiếu vô dĩ quán thiên địa, đạt u minh”.3 Năm 1848 Hòa thượng Hải Thiệu – Cương Kỷ4 bắt đầu xây dựng chùa quy mô lớn hơn với sự hỗ trợ của triều đình và các quan thái giám cùng Phật tử. Khi chùa được làm xong, vua Tự Đức ban biển “Sắc tứ Từ Hiếu tự” và cấp thêm 700 quan tiền để lạc thành. Các thái giám xin Hiệp biện Đại học sĩ lãnh Thượng thư Hình Bộ Nguyễn Đăng Giai làm bài văn “Sắc tứ Từ Hiếu tự bi ký” khắc vào bia đá năm Tự Đức thứ 2. Đến 50 năm sau, đời vua Thành Thái thứ 6 Giáp Ngọ – 1894, ngài Cương Kỷ lại đứng ra trung tu chùa khang trang hơn. Các vị kế thế trú trì chùa Từ Hiếu như ngài Huệ Đăng – đệ tử ngài Cương Kỷ, nhưng do mất sớm trước cả bổn sư 7 năm nên cũng không có trùng tu gì. Tiếp đến là ngài Thanh Ninh – Tâm Tịnh đệ tử ngài Hải Thuận Lương Duyên trú trì chùa Báo Quốc được kế vị chùa Từ Hiếu, nhưng sau 5 năm ngài lại từ chức để đi vân du hóa đạo, sau này lập chùa Tây Thiên Di Đà tự vào năm Thành Thái thứ 14 1902. Giai đoạn này, cũng có đợt trùng tu qui mô lớn cuối thế kỷ XIX, gắn liền công lao của vị thái giám Hồ Xuyên người làng Nguyệt Biều. Ngài Thanh Thái – Huệ Minh 1861- 1938 đệ tử ngài Cương Kỷ được cung thỉnh trú trì, đến năm Bảo Đại thứ 6 1931 – Tân Mùi, ngày 5 tháng 7, ngài đã đứng ra khởi công toàn diện trùng tu chùa, nhưng kết cấu điện chính bằng gỗ vẫn được giữ nguyên. Nên khi Hòa thượng Thanh Quý – Chơn Thiệt 1884 – 1968 kế thế trú trì đã cho trùng tu xây dựng lại chùa vào khoảng năm 1962. Và cho đến nay, chùa vẫn được giữ gần như nguyên vẹn và chỉ xây dựng thêm các đơn nguyên khác, phục vụ nhu cầu tu học, phật sự của tăng chúng trong chùa. Trải qua nhưng thăng trầm, đổi thay cùng với chiến tranh khốc liệt, chùa Từ Hiếu vẫn hiện hữu trong tâm trí người dân xứ Huế hôm nay bằng một bức tranh cảnh quan độc đáo, đắm mình trong thiên nhiên xanh mướt, rì rào tiếng thông reo. Là nơi trở về của chốn tổ, là trọng huyệt khai thông làm cho các dòng thiền Phật giáo Huế được tiếp nối và phát triển ở cõi Thuận Hóa qua những vị Lương Đống Hải Thuận – Lương Duyên, Hải Thiệu – Cương Kỷ và Hải Toàn – Linh Cơ. Ngoài ra, chùa là một trong những nơi lưu giữ, ấn hành kinh luật của sơn môn Huế mà hiện nay vẫn còn được tàng bản.5 Kiến trúc, cảnh quan vườn chùa Cái chất “chùa Huế” ở chùa Từ Hiếu thể hiện ở vị trí cảnh quan và môi sinh vườn chùa. Không một ngôi chùa nào ở Huế có cảnh trí thiên nhiên đậm chất “thiền”, thể hiện tinh thần nhà Phật rõ nét như vậy. Môi sinh chùa trong lành, thoáng đãng, sạch sẽ. Chùa nằm trên một đồi thông rộng lớn, thiên nhiên vườn rừng sẵn có là một lợi thế, nên các vị sư tổ hầu như không thay đổi, tác động nhiều về mặt cảnh quan. Đó chính là tinh thần “thiên nhân tương dữ” của chùa Huế. Cảnh chùa đầy cây cao, bóng mát, các cây cổ thụ lâu năm và đầy đủ chủng loại. Sau cổng tam quan là hồ bán nguyệt tĩnh lặng điểm vài bông hoa súng. Các hồ nước trong vắt mềm mại điểm thêm một vài chòi nghỉ, nhà thiền… khiến khung cảnh chùa rất hoang sơ, huyền bí. Từ ban đầu, dưới thời Tự Đức 1848 chùa được xây dựng theo kiểu ba gian hai chái, cột kèo chạm trổ; phía sau xây Thống Hội Đường, phía trái xây Lạc Thiện Đường, phía phải xây Ái Nhật Đường; và lầu bia, lầu chuông, tăng phòng; mỗi nơi đều xây tường ngang mái ngói.6 Đến năm Thành Thái thứ 6 1894, tháng 8 năm Giáp Ngọ, chùa lại được trùng tu, làm rộng các tòa chính điện, là thêm tiền đường, dựng thêm nhà bia và tạo thêm hồ nước. Đến năm Bảo Đại thứ 6 1931 chùa được khởi công trùng tu toàn diện ngôi chùa với các đơn nguyên thượng điện, các nhà cửa xung quanh chánh điện, nhà bia, tam quan và xây hồ bán nguyệt bằng đá. Vào khoảng hơn 30 năm sau, những năm 1962 – 1968, chánh điện chùa được trùng tu lần nữa, làm cho ngôi chùa có nhiều thay đổi so với trước. Ngoài bộ khung sườn chính điện bằng gỗ được giữ nguyên, lại được nâng cao hơn, thoát hẳn lối kiến trúc thấp bé ngày xưa; tiền đường và cột kèo đều được đúc bằng bê-ton sắt thép, nền lát xi măng. Báo Đức đường và Trung Nghĩa đường đều được sơn quyét sửa sang. Từ đó đến nay, dù có thay đổi trong kiến trúc nhưng chỉnh thể và toàn cảnh chùa Từ Hiếu vẫn giữ được nhiều nét xưa với những kiến trúc độc đáo, đặc trưng. Trên khảo sát hiện trạng mặt bằng tổng thể, có thể nhận thấy toàn bộ bố cục kiến trúc phân bố về phía bên trái khuôn viên, bên phải là cảnh quan vườn chùa và khu tháp mộ. Bố cục chùa đăng đối theo trục chính đạo Trục chính đạo trục thẳng xuyên suốt trong bố cục kiến trúc cổ để các khối kiên trúc bố trí đăng đối xuyên suốt từ cổng tam quan đến chính điện và nhà hậu. Bố cục kiểu “chữ Khẩu kín” được hình thành từ bốn khối chính điện, nhà hậu, nhà tăng và nhà khách. Khối chính điện luôn nằm phía trước, nhà hậu nằm phía đối diện. Hai bên là nhà khách và nhà tăng. Khoảng sân trong ở giữa bố trí cây cảnh để tạo giá trị cảnh quan, thư giãn. Xét về giá trị, bố cục chữ “khẩu” tạo nên sự cân bằng trong đơn nguyên kiến trúc, sự thuận tiện trong giao thông đi lại, đảm bảo thông thoáng và lấy sáng, giúp bảo quản đồ đạc, quan sát và quản lý đệ tử. Các khối phụ lầu chuông, nhà ăn, bếp, nhà sách… bố trí xung quanh chữ Khẩu theo kiểu phân tán dựa trên công năng và ý đồ vị trú trì. Các đường hành lang, các khoảng sân nhỏ kết nối các khối nhà tạo thành một tổ hợp sống động. Hệ thống tháp tổ, tháp mộ tách biệt về phía bên trái chính điện để tạo sự độc lập riêng biệt; trong khi khu mộ các thái giám triều Nguyễn bố trí ngay sát bên phải chính điện. Nhìn chung, các công trình lớn nhỏ trong chùa tuy trải qua nhiều lần trùng tu nhưng vẫn đồng đều và nhất quán về phong cách, màu sắc. Nổi trội có sắc xám tường gạch bị thời gian làm bạc màu, sắc xanh đen rêu phủ xen lẫn cây cỏ dại mọc hoang dày đặc trên ngói, trên tường. Kiến trúc các công trình chính Cổng tam quan xây dựng theo kiểu “tam quan 2 tầng có vọng lâu và 2 lầu giả hai bên”, cổng sâu 2m, tạo hình chắc chắn như một khối nhà che chở mưa gió đúng tinh thần nhà Phật. Cổng có tỷ lệ đường nét kiến trúc rất đẹp, gồm hai tầng, phía dưới là ba vòm ra vào. Lầu trên ngoài “vọng lâu” có thêm hai lầu giả được xây cao lên, đắp mái ngói, đắp nổi hình “long mã tải hà đồ” bằng sành sứ, thủy tinh. Phần giữa hai tầng là các ô trang trí hoa văn lồi lõm. Cách tạo hình ở chi tiết lồi – lõm trên bề mặt cổng kết hợp thủ pháp đối lập màu sắc mảng màu nóng của chi tiết khảm sành sứ đối lập với sắc xám bạc lạnh lẽo của tường gạch. Những thủ pháp đối lập đó liên tưởng đến cấu trúc tạo hình của Champa. Chính điện Chính điện có tỉ lệ kích thước hài hòa vừa phải, kiểu nhà trùng thiềm của cung điện kết hợp kết cấu mỗi khối là nhà rường kiến trúc dân gian. Cách tạo hình trang trí mĩ thuật theo lối cung đình Huế. Đặc biệt ngôi chính điện vẫn còn giữ lại bộ kết cấu và vật liệu gỗ quý hiếm. Đây chính là kết quả trùng tu vào thập niên 1960 dưới thời Hòa thượng Thanh Quý – Chơn Thiệt. Mặt đứng Bộ mái mỏng kiểu trùng thềm lợp ngói liệt, dải ô hộc trang trí sự tích đức Phật. Các đường bờ nóc, bờ quyết gắn sành sứ tạo hình trang trí giống cung điện. Đỉnh nóc trang trí lưỡng long chầu pháp luân, một motif phổ biến trong các ngôi chùa Huế. Hàng cột hiên sơn màu nâu đen chắc chắn. Màu ngói, màu cột, bậc cấp cùng màu nội thất đồ gỗ bên trong đều chung một sắc độ tối, trầm hòa quyện tạo nên một vẻ bí ẩn, tĩnh mịch. Nổi bật trên sắc tối đó là màu sặc sỡ của mảnh sành sứ hình long mã tải hà đồ trang trí hai bên chái, hình họa tiết hoa cúc, trúc, bát bửu… Nét kiến trúc Pháp thể hiện ở hàng con tiện hành lang, ở cột vuông bê tông sơn trắng… Theo kết quả khảo sát, cấu trúc chính điện kiểu “chính điện có tiền đường” gồm hai khối nhà khối tiền đường ở trước và khối chính điện ở sau. Cấu trúc này xuất phát từ kiến trúc “trùng thiềm điệp ốc” Trùng thiềm điệp ốc để chỉ hai nhà cùng một không gian mặt bằng liên tục nhau nhưng hai nóc nhà khác nhau gồm trước là tiền đường và nhà sau là chính điện, của cung điện nhà Nguyễn. Điểm khác nhau là hai khối trong kiến trúc cung điện được nối bởi “vì vỏ cua” ở giữa. Trong khi tiền đường và chính điện liên kết nhau và giải quyết phần thoát nước giữa hai mái bằng máng đúc bê tông, thay cho vì vỏ cua. Mặt bằng chính điện có 3 gian 2 chái, các gian rộng khoảng 3m. Mặt bằng có 36 cột gỗ đường kính 30cm bố trí trên 6 hàng ngang, dọc. Xung quanh chính điện là hàng hiên rộng từ 1,2 đến 1,5m. Bố trí không gian có 3 không gian không gian tiền đường, chính điện và không gian hậu tổ liên tiếp nhau. Tiền đường để làm lễ, quỳ lạy bố trí ở trong khối tiền đường. Không gian chính điện để thờ Phật ở 2 gian đầu tiên của khối chính điện. Hậu tổ bố trí ở 2 gian cuối cùng. Đăng đối hai bên chính điện và hậu tổ là 2 chái Đông Tây được xây gạch làm nơi ở của vị trú trì chùa. Về mặt kết cấu kết cấu của tiền đường và chính điện là cấu trúc Rường của nhà truyền thống Huế. Bộ khung chùa vẫn còn giữ lại vật liệu gỗ. Hai bộ vì nóc đỡ hai mái là vì “giao nguyên – trụ đội” Vì giao nguyên – trụ đội Bộ vì nóc hay gặp ở cung điện Huế, sử dụng 2 kèo chính giao nhau ở đỉnh, 2 đuôi kèo cắt nhau vượt lên trên đặt đòn dông. Dưới 2 kèo là trến nhỏ gọi là ấp quả, dưới ấp quả là trụ tiêu và con đội hay con tôm, một kiểu vì nóc hay gặp ở cung điện. Khối tiền đường gồm 4 bộ vì kèo chính, mỗi bộ gồm 1 kèo tiền, 1 kèo hậu, 4 kèo hiên đỡ 3 đòn tay hiên. Chính điện có 4 bộ vì kèo chính, mỗi bộ có 2 kèo tiền và 3 kèo hậu nối với nhau theo kiểu kèo chồng. Hiện nay, chùa đang chuẩn bị triệt hạ chánh điện, đại trùng chùa nhưng vẫn giữ lại những nét xưa trong kiến trúc độc đáo một thời của người dân xứ Huế. Thiết trí thờ tự và một số pháp bảo khác Thờ tự ở chùa Từ Hiếu cũng giống như bao ngôi tổ đình khác ở xứ Huế. Trên không gian kiến trúc 3 gian hai chái, trước Phật điện, phía sau là hậu tổ, sự phân bố thiết trí tượng thờ cũng được bố trí phù hợp, tạo nên một sự thuần nhất nhưng đầy tính linh hoạt bên trong. Tại Phật điện, gian giữa chính điện thờ Tam Thế Phật trên cao, ở dưới phía trước thờ Phật Thích Ca. Hai căn hai bên thờ Quan Âm và Địa Tạng và hai dãy tòng tự thờ Thập Bát la hán bằng tranh vẽ. Phía trước tiền đường thờ Long thiên Hộ pháp. Sau Hậu tổ là nơi thờ chư tổ khai sơn, trùng hưng, trùng kiến chùa qua các thời đại. Gian chính giữa thờ long vị ngài Tánh Thiên – Nhất Định, tổ khai sơn chùa Từ Hiếu và hai gian hai bên thờ long vị và các vị tổ kế thế trú trì qua các đời. Riêng nhà Hậu – đối diện với Hậu tổ, là nơi thờ Quan Thánh chính giữa và hai bên tả hữu thờ chư vị hữu công đối với chùa Ngoài chuông, tượng đồng được đúc dưới thời Tự Đức, thì mộc bản Phật giáo tàng lưu tại chùa Từ Hiếu là một trong những tài liệu quý giá, là nguồn sử liệu, văn hóa quan trọng để tìm hiểu về lịch sử của một ngôi danh lam trong nhiều giai đoạn đã qua. Hiện tại, chùa còn lưu trữ 163 tấm ván khắc với 280 mặt khắc, gồm 1 bộ kinh khắc vào Tự Đức năm thứ 3 Cao vương Quán Âm kinh; 3 bộ kinh được khắc dưới thời vua Thành Thái Đại thừa vô lượng nghĩa kinh Thành Thái năm thứ 8, Thiền môn nhật tụng, Phật thuyết báo phụ mẫu ân trọng kinh Thánh Thái năm thứ 10; 1 bộ khắc vào năm Khải Định thứ 10 Pháp bảo đàn kinh và bộ Niệm Phật vãng sanh nghi được khắc vào năm Duy Tân thứ 5. Ngoài ra còn có nhiều Phái quy y, Điệp thế độ, chú, triện,… và tranh khắc hiện còn lưu trữ, bảo quản tại chùa. Văn bia Chùa hiện có 8 bia với nhiều kiểu dạng khác nhau, ghi lại hành trạng lẫn công lao của các vị khai sơn đến các vị đệ tử kế thế trú trì của chùa – Bia An Dương am Nhất Định hòa thượng hành thực bi ký do toàn thể môn nhân ghi lại tiểu sử và hành trạng về ngài khai sơn của Từ Hiếu. Bia được dựng vào ngày tốt tháng 7 năm Tự Đức nguyên niên 1848. – Bia “Sắc tứ Từ Hiếu tự bi ký” do Thượng thư Nguyễn Đăng Giai soạn, kể về việc An Dưỡng am được cải đổi, xây dựng lớn thành tòng lâm, và được vua ban biển “Sắc tứ Từ Hiếu tự”. Bia dựng vào năm Kỷ Dậu, Tự Đức năm thứ hai 1849. – Bia “Cung Giám viện Thái giám đẳng cẩn tục bi chú” dựng vào tháng trọng xuân năm Ất Dậu 1885. – Bia “Từ Hiếu tự Diệu Giác hòa thượng bi ký” do Quản vụ thái giám Hồ Xuyên và Điền sự thái giám Nguyễn Xuân Phương cúng thạch bi, dựng vào ngày 18/4/Thành Thái thứ 7 1895. Nội dung văn bia kể tiểu sử và hành trạng của ngài Đỗ Lương Duyên. – Bia “Bồ Đề tháp bi ký” được tạo lập vào năm Thành Thái thứ 8 cùng năm với việc xây dựng tháp Bồ Đề. Nội dung bia nói về ý nghĩa việc xây tháp, công năng của tháp Bồ đề. – Bia “Trùng tu Từ Hiếu tự bi ký” dựng vào tháng Giêng năm Thành Thái thứ 11 Kỷ Hợi – 1899. Phía trước bia nói về việc trùng tu chùa và phía sau ghi phương danh người hiến cúng tịnh tài. – Bia “Từ Hiếu tự Cương Kỷ hòa thượng tháp bi ký” do môn đồ hiếu quyến đệ tử dựng bia vào năm Thánh Thái thứ 11 1899, ghi tiểu sử và hành trạng, công đức của Ngài. – Bia “Thiên Hưng tự giáo thọ hòa thượng bi minh” dựng vào năm Bảo Đại thứ 2 1927, kể về tiểu sử, hành trạng và công đức trùng hưng chùa Thiên Hưng. Tháp mộ Có thể thấy, đối với mỗi con người theo đạo Phật thì “sinh ký tử quy” hay “Tứ đại giai không” đều được thể hiện một cách đặc trưng, nhất là các vị cao tăng đắc đạo khi lần về giải thoát, xả bỏ báo thân tục phàm. Trong không gian đó, tháp mộ đã minh chứng những triết lý sâu sắc, đượm tính nhân văn của Phật giáo lẫn nét độc đáo trong cách tiếp biến kiến trúc và mỹ thuật của người Việt. Khu tháp mộ chùa Từ Hiếu cũng không là ngoại lệ và đó cũng là bức tranh lịch đại của một quá trình hưng khởi của một ngôi chùa từ khi hình thành đến hôm nay. Theo Phật học từ điển của Đoàn Trung Còn thì tháp stupa, pagoda, tháp bà, đâu bà, du bà, tụy đồ ba, tụy đô bà, phù đồ… đều là những tên gọi theo Phạn ngữ thường đọc là “tháp”. Ấy là những tòa kiến trúc cao, nhiều tầng, dưới lớn trên nhỏ, để thờ xá-lị tro tàn của chư Phật hoặc của các bậc thành đạo như Bồ-tát, Duyên-giác, A-la-hán; hoặc để táng di cốt của các bậc tôn túc từng hành đạo trong các ngôi chùa. Có cảnh tháp cất riêng một mình, song phần nhiều cốt trong vườn nhà chùa.7 Còn theo Nguyễn Tường Bách thì tháp trước hết là nơi chứa đựng Xá-lị ssarira các vị Phật hoặc các bậc Thánh. Tháp cũng được xây dựng tại các thánh tích quan trọng, kỷ niệm cuộc đời của Đức Phật Thích-ca Mâu-ni Lâm-tì-ni, Giác Thành, Câu-thi-na, Vương Xá …. Tháp không nhất thiết là nơi chứa đựng Xá-lị mà còn có thể là nơi chứa đựng kinh điển, tranh tượng. Tháp cũng là một trong những đối tượng thiền quán, thường có nhiều ý nghĩa tượng trưng. Các bậc thang lên tháp đôi lúc biểu hiện cho các khái niệm Đại thừa, như bốn bậc là từ, bi, hỷ, xả hay mười bậc là Thập địa.8 Trên thực tế, tháp có nhiều chức năng và công dụng khác nhau nhưng chức năng sơ khai ban đầu của nó là an trí Xá lợi hay nhục thân của Đức Phật của Bồ-tát và dần đến là nơi an táng của những vị cao tăng khi đến các vùng đất khác. Tuy nhiên ở đây, toàn bộ những ngôi tháp mộ chùa Từ hiếu là những ngôi tháp an táng các bậc trú trì, các bậc cao tăng chùa Từ Hiếu chiếm phần chủ đạo và bên cạnh đó là những ngôi mộ của những quan lại, thái giám trong Cung Giám Viện lẫn các tín đồ Phật tử có công lớn đối với chùa. Duy nhất ở Từ Hiếu chỉ có ngôi tháp Bồ Đề được Hòa thượng Cương Kỷ cho xây dựng tháp ở đồi thông phía trước cổng chùa vào năm Thành Thái thứ 8 1896 – Giáp Ngọ để làm nơi tàng trữ kinh sách và tượng Phật đã hư bởi kinh, tượng không được phá và đốt chỉ để vậy cho thời gian dần tự hoại nát. Và cho đến nay, chức năng này vẫn còn được duy trì, trở thành một thói quen của tín đồ, Phật tử khi có hữu sự. Còn lại đều là tháp của các vị trú trì các đời như – “Diệu Quang Tháp” – được xây dựng vào năm Thiệu Trị thứ 7 1847, cao 7 tầng làm nơi để trà tàng, lưu tích ngài Tánh Thiên Nhất Định, vị khai sơn tổ đình chùa Từ Hiếu. Xung quanh tháp có xây thành, trước có nhà bia, cột trụ. Mặt bia chính tháp khắc “Giác Hoàng Tăng cang, Lâm Tế chánh tông, húy Tánh Thiên Nhất Định Hòa thượng chi tháp”. – Tháp mộ ngài Hải Thiệu – Cương Kỷ, nằm cạnh tháp mộ ngài Nhất Định, được xây dựng vào năm Thành Thái thứ 10 1898, cao 7 tầng, xung quanh có thành bao bọc; trước tháp có 4 trụ biểu và nhà bia. Mặt sau bia ghi 15 lời nguyện của ngài phát nguyện vào năm Thành Thái thứ 2 1890. Trên bia tháp ghi “Sắc tứ Từ Hiếu tự trú trì, Lâm Tế húy Hải Thiệu Yết Ma A Xà Lê Đại lão chi tháp”. – Tháp mộ ngài Thanh Thái – Huệ Minh, xây ở bên phải chùa, gần tháp ngài Cương Kỷ. Văn bia trên tháp ghi “Ngự chế Thánh Duyên, Diệu Đế trùng hưng Từ Hiếu tự, Tăng cang húy thượng Thanh hạ Thái, Đàn đầu Hòa thượng chi tháp”. – Tháp mộ ngài Thanh Quý – Chơn Thiệt, được xây năm 1969 trong khuôn viên chùa. Văn bia ghi “Lâm Tế tứ thập nhất thế, trùng hưng Từ Hiếu tự, Tăng cang húy Thanh Quý hiệu Chơn Thiệt hòa thượng chi tháp”. Ngoài ra còn một số tháp mộ của những tăng sư sống trong chùa và môn phái khi viên tịch cũng được xây dựng tháp trong khuôn viên chùa. Và bên cạnh hệ thống tháp mộ các vị tổ sư còn có mộ các vị phi tần nhà Nguyễn, khu lăng mộ hình trứng của 24 vị thái giám triều Nguyễn rất đặc trưng… trong tìm hiểu và khám phá về loại hình tháp, lăng mộ ở các chùa Huế. Kết luận Chùa Từ Hiếu hình thành dưới thời vua Thiệu Trị với ban đầu chỉ là một thảo am được ngài Nhất Định dựng lên để tu hành và phụng dưỡng mẹ già. Sau khi ngài viên tịch, chùa được đệ tử Cương Kỷ cùng với Cung Giám Viện cải biến trên nền thảo am dựng chùa mới khang trang dưới thời vua Tự Đức nguyên niên và được vua ban biển “Sắc Tứ Từ Hiếu Tự”. Kể từ đó về sau, chùa ngày càng phát triển, phong môn sáng lạn, trở thành chốn tổ cho thiền môn dòng thiền Lâm Tế Liễu Quán xứ Huế. Kiến trúc, vườn chùa mang nét độc đáo riêng biệt, gắn liền với triết lý “thiên nhân tương dữ” hài hòa, thơ mộng tạo nên một không gian gắn kết giữa đạo và đời qua tiếng chuông trầm lắng, tiếng kinh thanh thoát vọng vang giữa núi đồi. Xen lẫn với những công trình kiến trúc còn có hệ thống tháp mộ, bia ký vẫn còn được giữ nguyên vẹn và không kém phần đặc trưng trong tạo hình và thẩm mỹ của giai đoạn mỹ thuật thời Nguyễn. Thiết trí thờ tự từ Phật điện đến các không gian khác đều mang một tính trật tự và đối xứng chuẩn theo từ trên xuống dưới, ra hai bên; các án tả hữu và tòng tự cũng được bố trí đơn giản. Hệ thống tượng thờ ở chùa gắn liền với những pho tượng được tạo lập từ khi trùng tu xây dựng chùa cho đến sau này. Đặc biệt chùa còn có thờ bộ tranh A La Hán được vẽ bằng tay rất độc đáo và trân quý. Có thể thấy, di sản văn hóa Phật giáo Huế là một di sản vô cùng to lớn, phong phú, đặc sắc và chứa đựng các giá trị văn hóa đặc trưng trên dãy đất miền Trung. Chùa Từ Hiếu với vị trí quan trọng trong lịch sử cho đến hôm nay, đã trở thành một điểm đến trong chuỗi du lịch di sản Phật giáo cùng với hệ thống đền đài, thành quách di sản mỹ thuật cung đình Huế được UNESCO công nhận. Hy vọng trong kế hoạch tái thiết trùng tu chùa Từ Hiếu năm 2019, tinh thần và giá trị kiến trúc nghệ thuật cũng như Phật giáo Huế ở ngôi danh lam nổi tiếng này vẫn được bảo tồn hợp lý. Tài liệu tham khảo Đặng Vinh Dự 2015, “Từ tháp Phật đến tháp Mộ – Một biểu tượng của hành trình giải thoát”, Đoàn Trung Còn 1967, Phật học từ điển [tập 1], Phật học Tòng thơ xuất bản, Sài Gòn. Giới Hương [phỏng dịch] 1994, Văn bia chùa Huế tài liệu lưu hành nội bộ. Hà Xuân Liêm 2007, Những ngôi chùa tháp Phật giáo ở Huế, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội. Lê Nguyễn Lưu [sưu tầm, dịch giải và chú thích] 2005, “Tuyển dịch văn bia chùa Huế”, Nghiên cứu phát triển, số 1 – 2 49 – 50. Lê Thọ Quốc 2009, “Quá trình thiết trí phối thờ một số vị thần ở các chùa Huế hiện nay” trong Hội thảo khoa học Nhận thức về miền Trung Việt Nam – Hành trình 10 năm nghiên cứu, Huế 7 – 2009. Lê Thọ Quốc 2009, “Thiết trí hệ thống tượng thờ ở các chùa Huế qua phong trào chấn hưng Phật giáo”, Luận văn Thạc sĩ Dân tộc học, Khoa Lịch sử, trường Đại học Khoa học Huế, Đại học Huế. Lê Thọ Quốc viết chung 2018, “Chùa Huế trong nguồn mạch đời sống văn hóa tâm linh xứ Huế”, Liễu Quán, Trung tâm Văn hóa Phật giáo Liễu Quán Huế, Nxb. Thuận Hóa, Số 15 – 8/2018. Nguyễn Đăng Duy 1999, Phật giáo với văn hóa Việt Nam, Nxb Hà Nội, Hà Nội. Nguyễn Hiền Đức 1995, Lịch sử Phật giáo Đàng Trong, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh. Nguyễn Hữu Thông 1992, Mỹ thuật thời Nguyễn trên đất Huế, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội. Nguyễn Hữu Thông 2001, Mỹ thuật Huế nhìn từ góc độ ý nghĩa và biểu tượng trang trí, Nxb Thuận Hóa, Huế. Nguyễn Hữu Thông [chủ biên] 2009, Nhạc lễ Phật giáo xứ Huế, Nxb Văn Nghệ, Thành phố Hồ Chí Minh. Nguyễn Lang 1994, Việt Nam Phật giáo sử luận [3 tập], Nxb Văn học, Hà Nội. Nguyễn Thị Minh Xuân, Nguyễn Ngọc Tùng 2018, “Đặc điểm kiến trúc chùa Từ Hiếu”, Liễu Quán, số 15 – 8/2018, Trung tâm Văn hóa Phật giáo Liễu Quán Huế, Nxb. Thuận Hóa. Thích Hải Ấn, Hà Xuân Liêm 2001, Lịch sử Phật Giáo xứ Huế, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh. Trần Đại Vinh, Nguyễn Hữu Thông, Lê Văn Sách 1993, Danh Lam xứ Huế, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội. 1 Hòa thượng Tánh Thiên Nhất Định 1784-1847 họ Nguyễn, người làng Trung Kiên, tổng Bích La, huyện Đăng Xương, tỉnh Quảng Trị, là đệ tử đắc pháp của ngài Đạo Minh Phổ Tịnh trú trì chùa Báo Quốc. Sau khi, bổ sư viên tịch 1816, ngài kế tục trú trì ở Báo Quốc, đến năm 1830 được vua châu phê, ban giới đao độ điệp trú trì Linh Hựu Quán và sung Tăng Cang Giác Hoàng tự 1839. Năm 1843, ngài xin nghỉ việc, đưa mẹ và hai đệ tử về núi Dương Xuân lập An Dưỡng am để tu hành và phụng dưỡng mẹ già. Ngày 7 tháng 10 năm Đinh Mùi 1847, ngài thu thần thị tịch, thọ 64 tuôi đời, có 46 tăng lạp. Ngài thuộc thế thứ dòng Lâm Tế Liễu Quán, đời thứ 5. Tháp được xây tại chùa có tên gọi là Diệu Quang tháp. 2 Phạm Đăng Nhật Thái 2017. Các đặc trưng của chùa truyền thống với loại hình chữ Khẩu ở thành phố Huế, Đề tài nghiên cứu cấp cơ sở trường Đại học Khoa học, Huế năm 2017. 3 Hà Xuân Liêm 2007, Những chùa tháp Phật giáo ở Huế, Hà Nội, Nxb. Văn hóa Thông tin, tr. 376. 4 Hòa thượng Hải Thiệu Cương Kỷ 1810 – 1899, người làng Xuân An, tổng An Đôn, huyện Đăng Xương, phủ Triệu Phong, Quảng Trị. Xuất gia năm 24 tuổi xuất gia, thờ Hòa thượng Tánh Thiên Nhất Định làm thầy và sau đó cùng thầy và sư huynh Hải Thuận – Lương Duyên lên đồi Dương Xuân lập thảo am. Sua khi bổn sư viên tịch, ngài kế thế và cho xây dựng chùa trên thảo am của bổn sư, chú tạo pháp tượng, pháp khí… mở đầu cho sự phát triển về sau. 5 Nguyễn Hữu Thông, Trần Đại Vinh, Lê Văn Sách 1993. Danh lam xứ Huế. NXB Hội nhà văn. 6 Hà Xuân Liêm 2007, Những chùa tháp Phật giáo ở Huế, Hà Nội, Nxb. Văn hóa Thông tin, tr. 375. 7 Đoàn Trung Còn 1997, Phật học từ điển, quyển II, Nxb Tp. Hồ Chí Minh, tr. 46 8 Chân Nguyên-Nguyễn Tường Bách 1999, Từ điển Phật học, Nxb Thuận Hóa, Khám Phá Di Sản Theo Sở Du lịch Thừa Thiên Huế
Địa chỉ chùa Từ Hiếu ở đâu? Lịch sử Tổ đình Từ Hiếu Huế Kiến trúc chùa Từ Hiếu Huế Quán ăn chay gần chùa Từ Hiếu Huế Quán chay tịnh tâm Quán chay Thiền Tâm Chùa Từ Hiếu Huế được khởi lập từ năm 1843, gắn liền với tấm lòng hiếu thảo của hòa thượng Nhất Định. Đồng thời đây cũng là công trình kiến trúc độc đáo, không gian yên bình hấp dẫn du khách và người dân địa phương. Với lịch sử lâu đời ngôi cổ tự này còn gắn liền với đời sống của người dân xứ Huế. Tổ đình Từ Hiếu nằm giữa khu rừng thông bát ngát, có khe nước chảy uốn quanh chùa, đem lại khung cảnh vô cùng hữu tình. Hãy cùng bài viết tìm hiểu thêm về địa điểm này nhé. Cổ tự Từ Hiếu được đặt tại thôn Dương Xuân Thượng III, phường Thủy Xuân, thành phố Huế. Chùa nằm sâu dưới những tán thông xanh mát, mang đến không gian thanh tịnh và yên bình thu hút du khách. Nơi đây cách trung tâm thành phố khoảng 5km và cung đường di chuyển cũng tương đối thuận lợi. Thời gian tốt nhất để đến thăm chùa Từ Hiếu là vào mùa khô tháng 3 – tháng 8 bởi vào thời gian này trời ít mưa, đường khô ráo dễ di chuyển và phù hợp với hoạt động vui chơi ngoài trời của du khách. Hoặc tháng 7 âm lịch – trùng với lễ Vu Lan báo hiệu trong văn hóa đạo Phật. Thời gian này người dân địa phương đến chùa làm lễ dâng hương và hồi hướng công đức khá đông. Cổng chùa Từ Hiếu – Nguồn tum100394 Từ trung tâm thành phố du khách có thể lựa chọn 1 trong 2 phương tiện sau để di chuyển đến chùa Từ Hiếu Huế Xe máy Thời gian di chuyển khoảng 15 -20p/chiều. Đường thẳng tương đối dễ đi và không có những khúc cua khó, du khách lại có thể chủ động về thời gian cũng như lịch trình; chi phí thuê xe khoảng – Một số địa điểm cho thuê xe máy tại Huế Cửa hàng Hạnh Thảo số 29C kiệt, 103 đường Nhật Lệ; số điện thoại 098 500 5113. Cửa hàng Cường huế 6/3 Kiệt, số 128 đường Nguyễn Chí Thanh; số điện thoại 096 920 52 19. Taxi Thời gian di chuyển 15p/chiều; chi phí 4 chỗ/chiều. Một số hãng taxi tại Huế Taxi Mai Linh 0234 3 89 89 89 Taxi Thành Công 0234 3 57 57 57 Taxi Vàng 0234 3 79 79 79 Lịch sử Tổ đình Từ Hiếu Huế Dựa vào những tài liệu và ghi chép có trong sử sách thì chùa Từ Hiếu sơ khai là Thảo Am do đại sư Nhất Định lập lên. Đây không chỉ là nơi ông tu hành đạo phật mà còn là nơi dành thời gian chăm sóc mẹ già, ốm yếu. Chuyện xưa kể lại rằng mặc dù tuổi đã cao nhưng hàng ngày nhà sư vẫn chống gậy vượt đường đèo dốc để mua thịt, cá về bồi dưỡng cơ thể cho mẹ. Khi đó, người dân nhìn thấy cảnh đó thì thường xì xào, kỳ thị nhà sư mà không biết giữ đạo hạnh lại ăn mặn nhưng ông vẫn bỏ ngoài tai dành tâm sức chăm sóc mẹ già. Câu chuyện đồn xa khi đến tai vua Tự Đức thì ông đã phái người xuống điều cha và rất cảm động trước tình cảm phụ tử của sư Nhất Định nên quyết định mở rộng am thành chùa và ban tên “Sắc tứ Từ Hiếu tự”. Và sau đó người dân đã lan truyền sự tích chùa Từ Hiếu Huế một cách rộng rãi. Hình ảnh ngôi chùa ngày xưa – Nguồn valentindewissocq Trải qua 3 lần trùng tu thì chùa Tự Đức có được dáng vẻ như hiện tại Năm 1848 chùa được xây dựng với quy mô lớn hơn Năm 1894 hòa thượng Cương Kỷ trùng tu và thiết kế toàn cảnh chùa dưới sự giúp đỡ của các Phật Tử, vua Thành Thái và quan lại. Năm 1931 hòa thường Minh Huệ cho trùng tu và xây hồ bán nguyệt. Năm 1962 hòa thượng Chơn Thiệt trùng tu và chỉnh trang lại chùa. Năm 1971 thượng tọa Chí Niệm chỉnh sửa lại hồ bán nguyệt, cổng tam quan và một số nhà cửa xuống cấp khác. Kiến trúc chùa Từ Hiếu Huế Toàn bộ không gian chùa nằm trên một đồi thông rộng lớn nên quanh năm không khí trong lành, xanh mát và yên tĩnh không vướng bụi trần thuộc phường Xuân Thủy. Toàn bộ cảnh chùa nằm trọn trong khu rừng rộng 8 mẫu, phía trước là dòng nước suối uốn quanh mang đến khung cảnh non nước hữu tình, khiến phật tử và du khách vương vấn mỗi lần vãn cảnh chùa. Toàn cảnh ngôi chùa nhìn từ trên cao – Nguồn Ngay bên ngoài cổng tam quan của chùa Từ Hiếu Huế là tòa tháp cao ba tầng có tên tháp Bồ Đề được xây dựng từ tháng 3 năm Thành Thái thứ 6 tức 1894. Tháp được xây dựng nhằm mục đích thu nhận, lưu giữ và bảo quản sách kinh, trang tượng,… bị hư hỏng từ các am, tự hay tư gia gần xa. Công trình độc đáo này cũng là công trình có kiến trúc độc đáo và duy nhất tại Huế. Ngay phía trước tháp có bia đá hơn 130 năm tuổi ghi chép lại lý do và việc xây dựng thấp bằng chữ Nôm. Tháp Bồ Đề – Nguồn Cổng chùa Từ Hiếu Huế được xây dựng theo kiểu kiến trúc tam quan đặc trưng với hoa văn đầu rồng, thân rồng uốn lượn. Cổng được xây hai tầng 4 cột đều có câu đối được viết bằng chữ nôm và hai bức tranh tùng mai trang trí hai bên. Dưới dòng chảy thời gian cổng chùa đã từng một lần hư hỏng nhưng được trùng tư và giữ nguyên vẻ đẹp cổ kính vốn có. Bước qua cổng Tổ đình Từ Hiếu Huế là hồ bán nguyệt nước xanh ngát, nơi nhiều cây xanh soi bóng. Tiếp đó là tấm bia không chỉ gắn liền với câu chuyện của sư Nhất Định mà còn có ý nghĩa răn dậy sâu sắc với thế hệ sau. Trong đó câu nói nổi tiếng được người Huế truyền tai nhau “Từ là đức lớn của Phật, nếu không Từ thì lấy gì tiếp độ tứ sanh cứu giúp vạn loại; Hiếu là đầu hạnh của Phật, nếu không Hiếu thì lấy gì để đạt thông cõi nhiệm bao phủ đất trời.” trích nguyên văn trên bia đá. Toàn bộ không gian chùa Từ Hiếu Huế lấy chữ khẩu “口” mà dựng thành theo kiểu kiến trúc đặc trưng của phật giáo Việt Nam thời đó là ba căn hai chái. Phía trước là điện thờ Phật, hai bên là lầu bia ghi lại lịch sử hình thành và tu sửa qua từng giai đoạn. Điện phía sau là Quảng Hiếu Đường, chính giữa thờ đức thánh quan, bên phải thờ các vị Thái giám triều Nguyễn và bên trái thờ hương linh phật tử tại gia. Phía sau là Tả Lạc Thiên nhà tăng và Hữu Ái Nhật nhà khách. Không gian bên trong chùa – Nguồn Internet Xung quanh Tổ đình Từ Hiếu Huế còn có nghĩa trang của 24 vị thái giám triều Nguyễn và tháp chuông lớn. Tương truyền rằng việc xây dựng chùa gắn liền với công đức của thái giám Châu Phước Năng nên khi mất các thái giám được phép chôn cất ở ngọn đồi rộng tách biệt với chùa. Tại đây có tấm bia đá kể lại mục đích xây dựng nghĩa trang và nỗi niềm buồn thương về cuộc đời không giống ai của các thái giám. Tháng 11 âm lịch hàng năm chùa Từ Hiếu sẽ tổ chức lễ hiệp kỵ lễ cúng cho vị thái giám. “Có thể bạn quân tâm! Một vài ngôi chùa nổi tiếng khác của Huế Chùa Linh Mụ, thiền viện trúc lâm Bạch Mã, chùa Từ Đàm, chùa Huyền Không Sơn Thượng,…” Quán ăn chay gần chùa Từ Hiếu Huế Quán chay tịnh tâm Không gian quán đơn giản theo kiểu không gian mở thoáng mát, bàn ghế bên trong khá đơn giản nhưng thực đơn vô cùng phong phú. Quán là địa điểm thưởng thức đồ chay quen thuộc với nhiều người dân Huế. Thực đơn món chay ở đây khá phong phú từ món mặn, món ăn vặt, lẩu,… du khách có thể dễ dàng lựa chọn được món ăn hợp khẩu vị. Địa chỉ số 54 đường Lê Ngô Cát, cách chùa Từ Hiếu 1km về phía Nam Giờ mở cửa 6h30 – 21h30 Quán chay Thiền Tâm Thực đơn món chay tại đây vô cùng phong phú, với nhiều món ăn hấp dẫn và rau xanh tươi ngon mang đến những trải nghiệm hương vị khó quên. Không gian quán khá đơn giản nhưng thái độ phục vụ tốt, niềm nở khiến du khách luôn cảm thấy dễ chịu khi dùng bữa tại đây. Địa chỉ 110A Lê Ngô Cát, Thủy Xuân, Thành phố Huế Giá – “Để có ngày du lịch đầy trọn vẹn, du khách đừng quên ghé thăm các địa điểm du lịch nổi tiếng khác của Huế như Lăng Đồng Khánh, Cung An Định, Lăng Tự Đức,…” Với những thông tin mà vừa chia sẻ hy vọng du khách đã có thể hiểu thêm về chùa Từ Hiếu Huế một trong những địa điểm du lịch văn hóa nổi tiếng trong và ngoài nước. Nếu có dịp đến Huế du khách hãy đến đây và tìm hiểu thêm về cảnh sắc nơi đây và tìm thấy một nơi yên bình tĩnh tâm sau những ngày làm việc căng thẳng. Đăng bởi Quốc HoàngTừ khoá Tổ đình Từ Hiếu Huế – Tìm hiểu lịch sử, sự tích, kiến trúc của chùa
– Chùa Từ Hiếu hay Tổ đình Từ Hiếu được xây dựng từ Am An Dưỡng tọa lạc tại thôn Dương Xuân Thượng 3 – xã Thủy Xuân – Chùa Từ Hiếu là một trong những ngôi cổ tự lớn và là một trong những ngôi chùa nổi tiếng của xứ Huế. Nguồn gốc tên gọi chùa “Từ Hiếu” ảnh sưu tầm Cái tên Từ Hiếu gắn liền với chuyện của cuộc đời một vị sư có pháp danh là Nhất Định. Vào năm 1843, sau khi từ chức Tăng Cang Giác Hoàng Quốc Tự và trao quyền trụ trì chùa Bảo Quốc cho pháp đệ là Nhất Niệm,hòa thượng Nhất ịnh đã đến nơi này khai sơn và dựng Thảo Am An Dưỡng để tịnh tu và phụng dưỡng mẹ già. Hòa thượng Nhất Định vốn là người có tấm long hiếu thảo, vào ngày nọ, mẹ của hòa thượng Nhất Định bị bệnh rất nặng. Nhà sư hết lòng lo thuốc thang, hàng ngày chăm sóc nhưng bệnh tình của mẹ vẫn không khỏi khi đo đã có người khuyên nhà sư nên mua thêm thịt, cá để tẩm bổ cho mẹ, bởi mẹ nhà sư đã quá suy nhược cơ thể. ảnh Hòa thượng Nhất Định nghe xong, mặc cho thiên hạ đàm tiếu chê bai, nhà sư vẫn hàng ngày chống gậy băng rừng, lội suối xuống chợ cách Thảo Am An Dưỡng đó hơn 5km để mua cá mang về nấu cháo cho mẹ tẩm bổ. Câu chuyện cảm động của hòa thượng Nhất Định được truyền đến vua Tự Đức vốn là một vị vua vốn rất hiếu thảo với mẹ. Vua Tự Đức đã lấy lòng cảm phục trước tấm lòng của hòa thượng Nhất Định nên đã ban tên “Từ Hiếu tự” cho Thảo Am An Dưỡng và ban tiền để tu sửa lại. Thảo Am An Dưỡng được mang tên chùa Từ Hiếu từ đó cho đến ngày nay. Từ là đức lớn của Phật, nếu không từ thì lấy gì tiếp độ tứ sanh cứu giúp vạn loại. Hiếu là đầu hạnh của Phật, nếu không hiếu thì lấy gì để đạt thông cõi nhiệm bao phủ đất trời. ảnh Vào những ngày rằm hàng tháng, chùa Từ Hiếu luôn là một điểm đến cho các thiện nam, tín nữ lên chùa bái Phật, với mục đích cầu sức khỏe cho ba mẹ, ông bà. Đây cũng chính là lý do Chùa Từ Hiếu trở thành ngôi chùa nổi tiếng của Huế. Nơi đặt nghĩa trang của thái giám ảnh Ngoài ra chùa Từ Hiếu còn có một nghĩa trang khá “độc nhất vô nhị” của Huế nói riêng và của Việt Nam nói chung. Nghĩa trang này từng là nơi chôn cất các quan thái giám trong cung triều Nguyễn khi xưa. Cũng chính vì thế nên ngoài tên gọi Từ Hiếu,ngôi chùa còn có các tên gọi khác như “chùa Hoạn quan” hay “chùa Thái giám”. Câu chuyện bắt đầu vào năm 1843, khi sư Nhất Định mới lập Thảo Am An Dưỡng. Lúc đó, quan thái giám Châu Phước Năng lúc bấy giờ đang cung phụng cho vua Thiệu Trị lo rằng sau này khi nằm xuống mồ mả không ai coi sóc, nên đã đứng ra quyên tiền góp của từ các thái giám trong cung để cùng nhau trùng tu Thảo Am An Dưỡng. ảnh sưu tầm Chính vì thế, về sau những thái giám trong triều Nguyễn nếu có phần công đức tại chùa sau khi qua đời sẽ được nhà chùa mai táng, chôn cất và hương khói tại nơi này. Đến với chùa Từ Hiếu bạn sẽ cảm thấy thanh tịnh, dườn như quên đi những phiền muộn của cuộc sống xô bồ chốn thị thành khi được hít thở bầu không khí trong lành nơi đây. Những hàng thông cao vun vút, được nghe những tiếng chuông vang vọng khắp chùa, càng nghe càng nhẹ lòng hơn, càng hiểu hơn về Huế. ảnh sưu tầm Ngoài ra, chùa Từ Hiếu còn có khung cảnh rất tuyệt, với hồ sen tỏa hương thơm, hồ cá rộng, con suối nhỏ chảy róc rách, có cửa chùa nhỏ, có cổng Tam quan uy nghi rêu phong, có cây xanh tươi tốt,… là những cảnh đẹp để bạn có thể tự chụp và lưu giữ những bức ảnh đẹp đẽ, sắc nét, tuyệt vời về xứ Huế mộng mơ. Có thể bạn quan tâm Top 5 ngôi chùa nổi tiếng tại Huế Chùa Thiền Lâm độc đáo với ngôi chùa “phật đứng, phật nằ” trên đất Huế Nhà vườn An Hiên nơi tìm về chốn bình yên binhqb94 Tổng hợp
Chùa Từ Hiếu thuộc phường Thủy Xuân, TP. Huế tỉnh Thừa Thiên – Huế. Nằm ẩn mình trong một rừng thông rộng lớn, là một ngôi chùa với lịch sử hình thành từ lâu đời, mang theo câu chuyện cảm động về tình mẫu tử từ thời xa xưa ấy. Chùa Từ Hiếu thuộc phường Thủy Xuân, TP. Huế tỉnh Thừa Thiên – Huế. Nằm ẩn mình trong một rừng thông rộng lớn, là một ngôi chùa với lịch sử hình thành từ lâu đời, mang theo câu chuyện cảm động về tình mẫu tử từ thời xa xưa ấy. Ban đầu chùa chỉ là một Thảo Am do thiền sư Nhất Định tạo lập vào năm 1843, ngài nguyên là "Tăng Cang Giác Hoàng Quốc Tự" trong Hoàng Cung, sau cáo lão lui về ở ẩn để tịnh tu và nuôi dưỡng mẹ già tại đây. Là người con có hiếu, tương truyền rằng có lần mẹ già ốm yếu, lâm bệnh nặng, hàng ngày ông lo thuốc thang nhưng mãi vẫn không khỏi, nên phải bồi dưỡng thịt, cá để chóng lành, hàng ngày ông phải chống gậy băng rừng vượt qua 5km để mua thịt, cá mang về cho mẹ già ăn. Người dân thiên hạ đồn đoán là hòa thượng nhưng lại phạm giới ăn mặn , bỏ ngoài tai những lời nói ấy, ông vẫn tận tâm chăm sóc mẹ già. Câu chuyện đến được tai của vua Tự Đức, vốn là người con hiếu thảo, nhà vua cho người tìm hiểu mới hay thiền sư nấu cháo cho mẹ ốm đau còn mình ngày ngày vẫn chay tịnh, một tâm tu hành. Khi biết được chuyện nhà vua liền lấy lòng cảm kích trước tấm lòng của hòa thượng Nhất Định nên ban cho “Sắc tứ Từ Hiếu tự”. Đến năm 1848, sau khi thiền sư Nhất Định viên tịch, triều đình thấu hiểu lòng hiếu thảo, đức độ của vị sư này, nên cho người mở rộng và tu sửa Thảo Am thành chùa Từ Hiếu. Nhất là các vị thái giám cúng dường tiền bạc để lo việc thờ tự sau này. Trên tấm bia tại chùa Từ Hiếu còn ghi rõ “Từ là đức lớn của Phật, nếu không Từ thì lấy gì tiếp độ tứ sanh cứu giúp vạn loại; Hiếu là đầu hạnh của Phật, nếu không Hiếu thì lấy gì để đạt thông cõi nhiệm bao phủ đất trời”.Có nghĩa Từ là để dạy thiên hạ cái đạo làm cha và Hiếu để dạy thiên hạ cái đạo làm con. Ngôi chùa từ đó đã đi sâu vào lòng người không phải bằng bề dày lịch sử hay công trình tráng lệ mà nhẹ nhàng với trường ca hiếu nghĩa và độ sinh. Với câu chuyện cảm động, chùa Từ Hiếu đã trở thành một biểu tượng của chốn thiền môn về đạo hiếu trong suốt nhiều thế kỷ qua. Cũng không biết từ bao giờ ngôi chùa cũng trở thành biểu tượng cho lòng hiếu thảo của con cái đối với những bậc sinh thành. Điều đó đã thấm sâu vào đời sống văn hóa của người dân nơi đây như một nét đẹp. Cứ mỗi dịp Vu Lan về, các Phật tử lại đến chùa làm lễ và cài lên áo những đóa hoa màu hồng hoặc màu trắng để thể hiện tấm lòng hiếu thảo của mình. Ít ai biết rằng đây chính là nơi thiền sư Thích Nhất Hạnh trụ trì, ngài chính là người đã đặt nền móng khai sinh ra tục lễ “bông hồng cài áo” mà đến nay đã trở thành một nét văn hóa riêng của người Việt. Những ý nghĩa đó cũng xuất phát từ chính ngôi chùa mang tên “Từ Hiếu” này. Không chỉ gắn liền với câu chuyện cảm động về đạo hiếu, ngôi chùa là sự kết hợp hài hòa giữa kiến trúc cổ và khung cảnh thiên nhiên của chốn nước non như lạc vào chốn bồng lai hư ảo, mang lại cảm giác thoải mái, tịnh tâm khi đến đây. Chùa Từ Hiếu nằm khuất mình giữa rừng thông bát ngát, có khe nước uốn quanh, tạo nên phong cảnh hữu tình. Lấy chữ “Khẩu” để xây thành, cấu trúc ngôi chùa theo kiểu ba gian hai chái, trước là điện thờ Phật, sau là Quảng Hiếu Đường, hai bên sân chùa có hai lầu bia để ghi lại lịch sử hình thành qua từng giai đoạn. Trước cổng chùa có ngôi tháp cao 3 tầng được xây dựng vào năm 1896 dùng làm nơi tàng trữ kinh tượng theo sắc chỉ của nhà vua. Cổng tam quan xây kiểu vòm cuốn hai tầng có mái che, phía trên thờ tượng Hộ Pháp. Vừa bước qua cổng chùa là gặp hồ bán nguyệt được trồng hoa sen và nuôi cá cảnh như cá trê, rùa,... Băng qua khoảng sân ở giữa với nhiều loại cây cảnh là dãy nhà Hậu hay còn có tên gọi khác là Quảng Hiếu Đường. Đây chính là nơi thờ Đức Thánh Quan, hương linh phật tử tại gia và các vị thái giám – những người có công xây dựng chùa,... Ngoài ra, ở đây còn có án thờ tả quân đô thống Lê Văn Duyệt cùng con ngựa gỗ và thanh đại đao của ông. Xung quanh ngôi chùa Từ Hiếu còn có khá nhiều lăng mộ các vị phi tần thời Nguyễn và tháp mộ của những danh tăng. Đặc biệt ngay sát bên phải chính điện chính là khu mộ và bảo tháp lưu giữ nhục thân của Thiền sư Nhất Định, người sáng lập nên Chùa Từ Hiếu. Đến với ngôi chùa Từ Hiếu, nhiều du khách không khỏi tò mò về một nghĩa trang nằm trong chính khuôn viên của chùa. Ít ai biết đó chính là nghĩa trang độc nhất vô nhị, là nơi an nghỉ của hơn 24 vị thái giám triều Nguyễn. Tương truyền, sau khi thiền sư Nhất Định viên tịch, Thảo Am đường được tu sửa và mở rộng thành chùa Từ Hiếu dưới sự giúp đỡ của một vị thái giám có tên là Châu Phước Năng. Ông chính là người nhận ra được số phận của các vị thái giám như mình khi về già không có người thân, không nơi nương tựa. Vì có sự đóng góp xây dựng chùa nên sau khi chết, các thái giám được chôn cất ở một ngọn đồi nhỏ nằm cạnh chùa Từ Hiếu. Vốn mang thân phận thiệt thòi, họ xem cửa Phật chính là nơi thờ tự lâu dài. Ngôi chùa này vì thế còn có tên gọi khác là “chùa Thái Giám”. Ngày nay, khu nghĩa trang này nằm bên phải của chùa có diện tích gần 1000m2, xung quanh là những bức tường bảo vệ cao khoảng 1,5m. Hơn 24 ngôi mộ được chia làm ba hàng, sắp xếp từ nhỏ đến lớn theo chức vụ của quan thái giám xưa. Ở giữa có tấm bia khắc ghi công lao đóng góp của họ đối với triều đình. Với địa thế đẹp, yên tĩnh, thoáng mát, trái ngược với cuộc sống xô bồ của chốn thành thị, nên vào các ngày nghỉ chùa đón được lượng khách lớn đến tham quan, dã ngoại. Nếu cảm thấy mệt mỏi, áp lực với cuộc sống thì chùa Từ Hiếu là nơi giúp bạn tịnh tâm, thanh thản, cùng hòa mình vào chốn thiên nhiên yên bình, thoải mái để quên đi những phiền muộn, âu lo.
lịch sử chùa từ hiếu huế