80 năm Thơ mới và Tự lực văn đoàn; Quá trình hiện đại hóa văn học; Việt Nam - Trung Quốc; Văn học Phật giáo; Xây dựng chuẩn mực chính tả; KH ngữ văn 2013; KH ngữ văn 2014
- Nhà nằm trên phố Tô Vĩnh Diện khu phân lô quân đội cách Ngã Tư Sở 800m, kinh doanh sầm uất giáp với những tuyến phố lớn
Giáo án Ngữ văn 11 - Phong trào thơ mới (1932-1945) Ngay từ khi ra đời, "Thơ mới đã đổi mới cảm xúc, đã tạo ra một cảm xúc mới trước cuộc đời và trước thiên nhiên, vũ trụ"7. Cảm hứng về thiên nhiên và tình yêu đã tạo nên bộ mặt riêng cho Thơ mới. Đó là vẻ đẹp tươi mới, đầy hương sắc, âm thanh, tràn trề sự sống.
Các nhà thơ Tản Đà, Huỳnh Thúc Kháng, Hoàng Duy Từ, Nguyễn Văn Hanh phản đối chống lại Thơ mới một cách quyết liệt. Cho đến cuối năm 1935, cuộc đấu tranh này tạm lắng và sự thắng thế nghiêng về phía Thơ mới. Ở giai đoạn đầu, Thế Lữ là nhà thơ tiêu biểu nhất của Phong trào thơ mới với tập Mấy vần thơ (1935).
Phong trào thơ mới là gì? Vào những năm đầu thập niên 1930, văn hoá Việt Nam diễn ra một cuộc vận động đổi mới thơ ca mạnh mẽ, mong muốn vượt ra khỏi quỹ đạo của văn chương trung đại Phương Đông. Đó chính là sự xuất hiện một làn sóng thơ mới với cá tính sáng tác độc đáo - Phong trào Thơ Mới.
Luyện thi lớp 10. Khóa học Phòng thi thử Đào tạo STEM; Kỹ năng Khái quát về phong trào Thơ Mới (Phần 1) Khái quát về phong trào Thơ Mới (Phần 2) 11. Ai đã đặt tên cho dòng sông - Hoàng Phủ Ngọc Tường. 12. Chiếc thuyền ngoài xa - Nguyễn Minh Châu
Sự xuất hiện của Thơ mới gắn liền với sự ra đời của Phong trào thơ mới 1932-1945. Phong trào thơ mới đã mở ra "một thời đại trong thi ca" 1, mở đầu cho sự phát triển của thơ ca Việt Nam hiện đại. I- Hoàn cảnh lịch sử xã hội. Một trào lưu văn học ra đời bao
Đặc biệt với các em học sinh lớp 11, các em dành một lượng thời gian lớn để tìm hiểu về các tác giả, tác phẩm trong phong trào thơ mới. Với những tác phẩm thơ mới kiệt xuất, có sự đổi mới, sáng tạo lớn lao, học sinh được tiếp cận với các phong cách sáng tác đa
App Vay Tiền Nhanh. Phong trào thơ mới 1932 – 1945 Mời các bạn học sinh tham khảo thêm Thế nào là đoạn văn Diễn dịch – Quy nạp Trong những năm đầu thập kỷ thứ ba của thế kỷ trước xuất hiện một dòng thơ ca thuộc khuynh hướng lãng mạn. Đó là Thơ mới hay còn gọi là Thơ mới lãng mạn. Thơ mới là một cuộc cách mạng thơ ca trong tiến trình lịch sử văn học dân tộc ở thế kỷ 20. Sự xuất hiện của Thơ mới gắn liền với sự ra đời của Phong trào thơ mới 1932-1945. Phong trào thơ mới đã mở ra “một thời đại trong thi ca” 1, mở đầu cho sự phát triển của thơ ca Việt Nam hiện đại. I- Hoàn cảnh lịch sử xã hội. Một trào lưu văn học ra đời bao giờ cũng phản ánh những đòi hỏi nhất định của lịch sử xã hội. Bởi nó là tiếng nói, là nhu cầu thẩm mỹ của một giai cấp, tầng lớp người trong xã hội. Thơ mới là tiếng nói của giai cấp tư sản và tiểu tư sản. Sự xuất hiện của hai giai cấp này với những tư tưởng tình cảm mới, những thị hiếu thẩm mỹ mới cùng với sự giao lưu văn học Đông Tây là nguyên nhân chính dẫn đến sự ra đời của Phong trào thơ mới 1932-1945. Giai cấp tư sản đã tỏ ra hèn yếu ngay từ khi ra đời. Vừa mới hình thành, các nhà tư sản dân tộc bị bọn đế quốc chèn ép nên sớm bị phá sản và phân hóa, một bộ phận đi theo chủ nghĩa cải lương. So với giai cấp tư sản, giai cấp tiểu tư sản giàu tinh thần dân tộc và yêu nước hơn. Tuy không tham gia chống Pháp và không đi theo con đường cách mạng nhưng họ sáng tác văn chương cũng là cách để giữ vững nhân cách của mình. Cùng với sự ra đời của hai giai cấp trên là sự xuất hiện tầng lớp trí thức Tây học. Đây là nhân vật trung tâm trong đời sống văn học lúc bấy giờ. Thông qua tầng lớp này mà sự ảnh hưởng của các luồng tư tưởng văn hoá, văn học phương Tây càng thấm sâu vào ý thức của người sáng tác. II- Các thời kỳ phát triển của Phong trào thơ mới . Thơ mới được thai nghén từ trước 1932 và thi sĩ Tản Đà chính là người dạo bản nhạc đầu tiên trong bản hòa tấu của Phong trào thơ mới. Tản Đà chính là “gạch nối” của hai thời đại thơ ca Việt Nam, được Hoài Thanh – Hoài Chân xếp đầu tiên trong số 46 tên tuổi lớn của Phong trào thơ mới. Và đến ngày 10-3-1932 khi Phan Khôi cho đăng bài thơ “Tình già” trên Phụ nữ tân văn số 22 cùng với bài tự giới thiệu “Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ” thì phát súng lệnh của Phong trào thơ mới chính thức bắt đầu. Có thể phân chia các thời kỳ phát triển của Phong trào thơ mới thành ba giai đọan2 1- Giai đoạn 1932-1935 Đây là giai đoạn diễn ra cuộc đấu tranh giữa Thơ mới và “Thơ cũ”. Sau bài khởi xướng của Phan Khôi, một loạt các nhà thơ như Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Huy Thông, Vũ Đình Liên liên tiếp công kích thơ Đường luật, hô hào bỏ niêm, luật, đối, bỏ điển tích, sáo ngữ …Trong bài “Một cuộc cải cách về thơ ca” Lưu Trọng Lư kêu gọi các nhà thơ mau chóng “đem những ý tưởng mới, những tình cảm mới thay vào những ý tưởng cũ, những tình cảm cũ”. Cuộc đấu tranh này diễn ra khá gay gắt bởi phía đại diện cho “Thơ cũ” cũng tỏ ra không thua kém. Các nhà thơ Tản Đà, Huỳnh Thúc Kháng, Hoàng Duy Từ, Nguyễn Văn Hanh phản đối chống lại Thơ mới một cách quyết liệt. Cho đến cuối năm 1935, cuộc đấu tranh này tạm lắng và sự thắng thế nghiêng về phía Thơ mới. Ở giai đoạn đầu, Thế Lữ là nhà thơ tiêu biểu nhất của Phong trào thơ mới với tậpMấy vần thơ 1935. Ngoài ra còn có sự góp mặt các nhà thơ Lưu Trọng Lư, Nguyễn Nhược Pháp, Vũ Đình Liên … 2- Giai đoạn 1936-1939 Đây là giai đoạn Thơ mới chiếm ưu thế tuyệt đối so với “Thơ cũ” trên nhiều bình diện, nhất là về mặt thể loại. Giai đọan này xuất hiện nhiều tên tuổi lớn như Xuân Diệu tậpThơ thơ -1938, Hàn Mặc Tử Gái quê -1936, Đau thương -1937, Chế Lan Viên Điêu tàn – 1937, Bích Khuê Tinh huyết – 1939, … Đặc biệt sự góp mặt của Xuân Diệu, nhà thơ “mới nhất trong các nhà thơ mới”, vừa mới bước vào làng thơ “đã được người ta dành cho một chỗ ngồi yên ổn”3 . Xuân Diệu chính là nhà thơ tiêu biểu nhất của giai đoạn này. Vào cuối giai đoạn xuất hiện sự phân hóa và hình thành một số khuynh hướng sáng tác khác nhau. Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này được giải thích bằng sự khẳng định của cái Tôi. Cái Tôi mang màu sắc cá nhân đậm nét đã mang đến những phong cách nghệ thuật khác nhau cả về thi pháp lẫn tư duy nghệ thuật. Và khi cái Tôi rút đến sợi tơ cuối cùng thì cũng là lúc các nhà thơ mới đã chọn cho mình một cách thoát ly riêng. 3- Giai đoạn 1940-1945 Từ năm 1940 trở đi xuất hiện nhiều khuynh hướng, tiêu biểu là nhóm Dạ Đài gồm Vũ Hoàng Chương, Trần Dần, Đinh Hùng …; nhóm Xuân Thu Nhã Tập có Nguyễn Xuân Sanh, Đoàn Phú Tứ, Nguyễn Đỗ Cung …; nhóm Trường thơ Loạn có Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Bích Khê,… Có thể nói các khuynh hướng thoát ly ở giai đọan này đã chi phối sâu sắc cảm hứng thẩm mỹ và tư duy nghệ thuật trong sáng tác của các nhà thơ mới. Giai cấp tiểu tư sản thành thị và một bộ phận trí thức đã không giữ được tư tưởng độc lập đã tự phát chạy theo giai cấp tư sản. Với thân phận của người dân mất nước và bị chế độ xã hội thực dân o ép, họ như kẻ đứng ngã ba đường, sẵn sàng đón nhận những luồng gió khác nhau thổi tới. Bên cạnh đó, một bộ phận các nhà thơ mới mất phương hướng, rơi vào bế tắc, không lối thoát. III- Những mặt tích cực, tiến bộ của Phong trào thơ mới Đánh giá Phong trào thơ mới, nhà thơ Xuân Diệu nhận địnhh “Thơ mới là một hiện tượng văn học đã có những đóng góp vào văn mạch của dân tộc”… “ Trong phần tốt của nó, Thơ mới có một lòng yêu đời, yêu thiên nhiên đất nước, yêu tiếng nói của dân tộc”. Nhà thơ Huy Cận cũng cho rằng “Dòng chủ lưu của Thơ mới vẫn là nhân bản chủ nghĩa”… “Các nhà thơ mới đều giàu lòng yêu nước, yêu quê hương đất nước Việt Nam. Đất nước và con người được tái hiện trong Thơ mới một cách đậm đà đằm thắm”4. 1- Tinh thần dân tộc sâu sắc Thơ mới luôn ấp ủ một tinh thần dân tộc, một lòng khao khát tự do. Ở thời kỳ đầu, tinh thần dân tộc ấy là tiếng vọng lại xa xôi của phong trào cách mạng từ 1925-1931 mà chủ yếu là phong trào Duy Tân của Phan Bội Châu và cuộc khởi nghĩa Yên Bái. Nhà thơ Thế Lữ luôn mơ ước được “tung hoành hống hách những ngày xưa” Nhớ rừng; Huy Thông thì khát khao “Muốn uống vào trong buồng phổi vô cùng Tất cả ánh sáng dưới gầm trời lồng lộng”. Tinh thần dân tộc của các nhà thơ mới gửi gắm vào lòng yêu tiếng Việt. Nghe tiếng ru của mẹ, nhà thơ Huy Cận cảm nhận được “hồn thiêng đất nước” trong từng câu ca “Nằm trong tiếng nói yêu thương Nằm trong tiếng Việt vấn vương một đời”. Có thể nói, các nhà thơ mới đã có nhiều đóng góp, làm cho tiếng Việt không ngày càng trong sáng và giàu có hơn. Ở giai đoạn cuối, tinh thần dân tộc chỉ còn phảng phất với nỗi buồn đau của ngưòi nghệ sĩ không được tự do Độc hành ca, Chiều mưa xứ Bắc của Trần Huyền Trân, Tống biệt hành, Can trường hành của Thâm Tâm … 2- Tâm sự yêu nước thiết tha Có thể nói, tinh thần dân tộc là một động lực tinh thần để giúp các nhà thơ mới ấp ủ lòng yêu nước. Quê hương đất nước thân thương đã trở thành cảm hứng trong nhiều bài thơ. Đó là hình ảnh Chùa Hương trong thơ Nguyễn Nhược Pháp Em đi Chùa Hương; hình ảnh làng sơn cước vùng Hương Sơn Hà Tĩnh trong thơ Huy Cận Đẹp xưa; hình ảnh làng chài nơi cửa biển quê hương trong thơ Tế Hanh Quê hương Các thi sĩ đã mang đến cho thơ cái hương vị đậm đà của làng quê, cái không khí mộc mạc quen thuộc của ca dao Nguyễn Bính, Đoàn Văn Cừ, Bàng Bá Lân, Anh Thơ, … Hình ảnh thôn Đoài, thôn Đông, mái đình, gốc đa, bến nước, giậu mồng tơi, cổng làng nắng mai, mái nhà tranh đã gợi lên sắc màu quê hương bình dị, đáng yêu trong tâm hồn mỗi người Việt Nam yêu nước. Bên cạnh những mặt tích cực và tiến bộ nói trên, Phong trào thơ mới còn bộc lộ một vài hạn chế. Một số khuynh hướng ở thời kỳ cuối rơi vào bế tắc, không tìm được lối ra, thậm chí thoát ly một cách tiêu cực. Điều đó đã tác động không tốt đến một bộ phận các nhà thơ mới trong quá trình “nhận đường” những năm đầu sau cách mạng tháng Tám. IV- Đặc điểm nổi bật của Phong trào thơ mới 1. Sự khẳng định cái Tôi Nền văn học trung đại trong khuôn khổ chế độ phong kiến chủ yếu là một nền văn học phi ngã. Sự cựa quậy, bứt phá tìm đến bản ngã đã ít nhiều xuất hiện trong thơ Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ,… Đến Phong trào thơ mới, cái Tôi ra đời đòi được giải phóng cá nhân, thoát khỏi luân lí lễ giáo phong kiến chính là sự tiếp nối và đề cao cái bản ngã đã được khẳng định trước đó. Đó là một sự lựa chọn khuynh hướng thẩm mỹ và tư duy nghệ thuật mới của các nhà thơ mới. Ý thức về cái Tôi đã đem đến một sự đa dạng phong phú trong cách biểu hiện. Cái Tôi với tư cách là một bản thể, một đối tượng nhận thức và phản ánh của thơ ca đã xuất hiện như một tất yếu văn học. Đó là con người cá tính, con người bản năng chứ không phải con người ý thức nghĩa vụ, giờ đây nó đàng hoàng bước ra “trình làng” chữ dùng của Phan Khôi. Xuân Diệu, nhà thơ tiêu biểu của Phong trào thơ mới lên tiếng trước – “Tôi là con chim đến từ núi lạ …” “Tôi là con nai bị chiều đánh lưới”… Có khi đại từ nhân xưng “tôi” chuyển thành “anh” “Anh nhớ tiếng, anh nhớ hình, anh nhớ ảnh Anh nhớ em, anh nhớ lắm em ơi!” Thoảng hoặc có khi lại là “Ta” “Ta là Một, là Riêng là Thứ Nhất Không có chi bè bạn nổi cùng ta”. “ Thơ mới là thơ của cái Tôi”5. Thơ mới đề cao cái Tôi như một sự cố gắng cuối cùng để khẳng định bản ngã của mình và mong được đóng góp vào “văn mạch dân tộc”, mở đường cho sự phát triển của thi ca Việt Nam hiện đại. 2 . Nỗi buồn cô đơn Trong bài “Về cái buồn trong Thơ mới”, Hoài Chân cho rằng “Đúng là Thơ mới buồn, buồn nhiều”, “Cái buồn của Thơ mới không phải là cái buồn ủy mị, bạc nhược mà là cái buồn của những người có tâm huyết, đau buồn vì bị bế tắc chưa tìm thấy lối ra”6. Cái Tôi trong Thơ mới trốn vào nhiều nẻo đường khác nhau, ở đâu cũng thấy buồn và cô đơn. Nỗi buồn cô đơn tràn ngập trong cảm thức về Tiếng thu với hình ảnh “Con nai vàng ngơ ngác Đạp trên lá vàng khô”. Lưu Trọng Lư . Với Chế Lan Viên đó là “Nỗi buồn thương nhớ tiếc dân Hời” tức dân Chàm “Đường về thu trước xa xăm lắm Mà kẻ đi về chỉ một tôi” Nghe một tiếng gà gáy bên sông, Lưu Trọng Lư cảm nhận được nỗi buồn “Xao xác gà trưa gáy não nùng” còn Xuân Diệu lại thấy “Tiếng gà gáy buồn nghe như máu ứa”. Về điều này, Hoài Chân cho rằng “Xuân Diệu phải là người buồn nhiều, đau buồn nhiều mới viết được những câu thơ nhức xương như “Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối / Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm”. Nỗi buồn cô đơn là cảm hứng của chủ nghĩa lãng mạn. Với các nhà thơ mới, nỗi buồn ấy còn là cách giải thoát tâm hồn, là niềm mong ước được trải lòng với đời và với chính mình. 3. Cảm hứng về thiên nhiên và tình yêu Ngay từ khi ra đời, “Thơ mới đã đổi mới cảm xúc, đã tạo ra một cảm xúc mới trước cuộc đời và trước thiên nhiên, vũ trụ”7. Cảm hứng về thiên nhiên và tình yêu đã tạo nên bộ mặt riêng cho Thơ mới. Đó là vẻ đẹp tươi mới, đầy hương sắc, âm thanh, tràn trề sự sống. Đây là cảnh mưa xuân trong thơ Nguyễn Bính “Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay Hoa xoan lớp lớp rụng rơi đầy”. Và đây là hình ảnh buổi trưa hè “Buổi trưa hè nhè nhẹ trong ca dao Có cu gáy và bướm vàng nữa chứ” Huy Cận. Trong thơ Chế Lan Viên có không ít những hình ảnh như “Bướm vàng nhè nhẹ bay ngang bóng Những khóm tre cao rủ trước thành” tất cả gợi lên hình ảnh quê hương bình dị, thân thuộc với mỗi người Việt Nam. Những cung bậc của tình yêu đã làm thăng hoa cảm xúc các nhà thơ mới. “Ông hoàng của thơ tình” Xuân Diệu bộc bạch một cách hồn nhiên “Tôi khờ khạo lắm, ngu ngơ quá Chỉ biết yêu thôi chẳng biết gì”. Chu Văn Sơn cho rằng “Xuân Diệu coi tình yêu như một tôn giáo” nhưng là một “thứ tôn giáo lãng mạn, tôn giáo nghệ sĩ”8. Khác với Xuân Diệu, nhà thơ Chế Lan Viên cảm nhận thân phận bằng nỗi cô đơn sầu não “Với tôi tất cả như vô nghĩa Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau”. Cảm xúc ấy không phải là một ngoại lệ. Nhà thơ Huy Cận cho rằng “Cái đẹp bao giờ cũng buồn” Kinh cầu tự và cảm nhận được sự tận cùng của nỗi buồn cô đơn “sầu chi lắm, trời ơi, chiều tận thế”. Nhà thơ triết lý về điều này một cách sâu sắc “Chân hết đường thì lòng cũng hết yêu”. 4. Một số đặc sắc về nghệ thuật Thơ mới là một bước phát triển quan trọng trong tiến trình hiện đại hóa nền văn học nước nhà những năm đầu thế kỉ XX với những cuộc cách tân nghệ thuật sâu sắc. Về thể loại, ban đầu Thơ mới phá phách một cách phóng túng nhưng dần dần trở về với các thể thơ truyền thống quen thuộc như thơ ngũ ngôn, thất ngôn, thơ lục bát. Các bài thơ ngũ ngôn có Tiếng thu Lưu Trọng Lư, Ông Đồ Vũ Đình Liên, Em đi chùa Hương Nguyễn Nhược Pháp… Các nhà thơ Huy Cận, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, chủ yếu viết theo thể thơ thất ngôn, còn Nguyễn Bính, Thế Lữ lại dùng thể thơ lục bát Cách hiệp vần trong Thơ mới rất phong phú, ít sử dụng một vần độc vận mà dùng nhiều vần như trong thơ cổ phong trường thiên vần ôm, vần lưng, vần chân, vần liên tiếp, vần gián cách hoặc không theo một trật tự nhất định “Tiếng địch thổi đâu đây Cớ sao nghe réo rắt Lơ lửng cao đưa tận chân trời xanh ngắt Mây bay… gió quyến, mây bay Tiếng vi cút như khoan như dìu dặt Như hắt hiu cùng hơi gió heo may” Thế Lữ. Sự kết hợp giữa vần và thanh điệu tạo nên cho Thơ mới một nhạc điệu riêng. Đây là những câu thơ toàn thanh bằng “Sương nương theo trăng ngừng lưng trời Tương tư nâng lòng lên chơi vơi” Xuân Diệu hay “Ô hay! Buồn vương cây ngô đồng Vàng rơi! Vàng rơi! Thu mênh mông” Bích Khê Ngoài việc sử dụng âm nhạc, Thơ mới còn vận dụng cách ngắt nhịp một cách linh hoạt “Thu lạnh / càng thêm nguyệt tỏ ngời Đàn ghê như nước / lạnh / trời ơi!” Xuân Diệu Ở một phương diện khác, cuộc cách tân về ngôn ngữ Thơ mới diễn ra khá rầm rộ. Thoát khỏi tính quy phạm chặt chẽ và hệ thống ước lệ dày đặc của “Thơ cũ”, Thơ mới mang đến cho người đọc một thế giới nghệ thuật giàu giá trị tạo hình và gợi cảm sâu sắc “Con đường nhỏ nhỏ, gió xiêu xiêu Lả lả cành hoang nắng trở chiều” Xuân Diệu hay “Mưa đổ bụi êm êm trên bến vắng Đò biếng lười nằm mặc dưới sông trôi” Anh Thơ Sự phong phú về thể loại, vần và nhạc điệu cùng với tính hình tượng, cảm xúc của ngôn ngữ đã tạo nên một phong cách diễn đạt tinh tế, bằng cảm giác, bằng màu sắc hội họa của thơ mới. Đây là bức tranh “Mùa xuân chín” được Hàn Mặc Tử cảm nhận qua màu sắc và âm thanh “Trong làn nắng ửng, khói mơ tan Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng Sột soạt gió trêu tà áo biếc Trên dàn thiên lý. Bóng xuân sang”. 5. Sự ảnh hưởng của thơ Đường và thơ ca lãng mạn Pháp. Thơ mới ảnh hưởng thơ Đường khá đậm nét. Sự gặp gỡ giữa thơ Đường và Thơ mới chủ yếu ở thi tài, thi đề. Các nhà thơ mới chỉ tiếp thu và giữ lại những mặt tích cực, tiến bộ của thơ Đường trong các sáng tác của Đỗ Phủ, Lý Bạch, Bạch Cư Dị,… Trong bàiTràng giang, Huy Cận mượn tứ thơ của Thôi Hiệu để bày tỏ lòng yêu nước “Lòng quê dợn dợn vời con nước Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”. Nếu sự ảnh hưởng thơ Đường làm cho thơ tiếng Việt càng phong phú giàu có thêm, tinh tế hơn thì sự ảnh hưởng thơ ca lãng mạn Pháp góp phần cho Thơ mới sáng tạo về thi hứng, bút pháp và cách diễn đạt mới lạ, độc đáo. Một trong những nhà thơ đầu tiên chịu ảnh hưởng sâu sắc thơ Pháp là Thế Lữ, Huy Thông, về sau là Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử,…Hầu hết các nhà thơ mới chịu ảnh hưởng khá sâu sắc chủ nghĩa tượng trưng của thơ ca lãng mạn Pháp mà đại biểu là Budelaire, Verlaine, Rimbaud. Sự ảnh hưởng ấy diễn ra trên nhiều bình diện từ cách gieo vần, ngắt nhịp đến cách diễn đạt. Ta có thể tìm thấy điều này ở các bài Nguyệt Cầm, Đây mùa thu tới Xuân Diệu, Đi giữa đường thơm Huy Cận, Màu thời gian Đoàn Phú Tứ. Một số bài thơ trong tập Tinh huyết Bích Khê,Thơ điên Hàn Mặc Tử, Thơ say Vũ Hoàng Chương chịu ảnh hưởng sâu sắc trường phái suy đồi của thơ ca Pháp các bài thơ Những nguyên âm của Rimbaud, Tương hợp của Budelaire …. Trong bài “Thơ mới-cuộc nổi loạn ngôn từ” Đỗ Đức Hiểu nêu nhận xét về hệ thống ngôn từ Thơ mới “Thơ mới là bản hòa âm của hai nền văn hóa xa nhau vời vợi, là bản giao hưởng cổ và hiện đại”9. Đó là sự giao thoa tiếng Việt với thơ Đường và thơ ca lãng mạn Pháp thế kỷ XIX. Sự ảnh hưởng thơ Đường và thơ ca lãng mạn Pháp đối với Phong trào thơ mới không tách rời nhau. Điều này cho thấy tác động và ảnh hưởng từ nhiều phía đối với Thơ mới là một tất yếu trong quá trình hiện đại hóa thơ ca. Chính sự kết hợp Đông -Tây nói trên đã tạo nên bản sắc dân tộc và sức hấp dẫn riêng của Thơ mới. Sau 75 năm, kể từ khi ra đời cho đến nay, Phong trào thơ mới đã có chỗ đứng vững chắc trong đời sống văn học dân tộc. Qua thời gian, những giá trị tốt đẹp của Phong trào thơ mới Việt Nam 1932-1945 càng được thử thách và có sức sống lâu bền trong lòng các thế hệ người đọc. ————————————— CHÚ THÍCH 1- Một thời đại trong thi ca Thi nhân Việt Nam, Hòai Thanh-Hoài Chân, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1993, trang 15 2- Trong cuốn Văn học lãng mạn Việt Nam 1930-1945 NXB Giáo dục, 2002, Phan Cự Đệ chia làm 2 giai đoạn 1932-1939 và 1940-1945 3- Thi nhân Việt Nam Sđd, trang 106 4- Về Thơ mới Huy Cận, Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thơ ca, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2003, trang 12 5- Thơ mới, những bước thăng trầm Lê Đình Kỵ, NXB TP. Hồ Chí Minh, 1993, trang 46 6- Về cái buồn trong Thơ mới Hoài Chân, Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thơ ca, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2003, trang 23 7- Về Thơ mới Huy Cận, Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thơ ca, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2003, trang 9 8- Ba đỉnh cao Thơ mới Chu Văn Sơn- NXB Giáo dục, Hà Nội, 2003, trang 24. 9- Thơ mới, cuộc nổi loạn của ngôn từ Đỗ Đức Hiểu, Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thơ ca, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2003, trang 142. Biên soạn PMT Chuyên BL Thảo luận cho bài Phong trào thơ mới 1932 – 1945
Câu hỏi Phong trào thơ mới trải qua mấy giai đoạn? Đặc điểm chính của mỗi giai đoạn đó? Lời giải Phong trào thơ mới trải qua 3 giai đoạn, đó là * Giai đoạn 1932 -1935 – Những người khởi xướng phong trào Thơ Mới Thế Lữ, Vũ Đình Liên, Tản Đà. – Các nhà thơ trong giai đoạn này kịch liệt chống đối thơ cũ, đưa ra những cách thức sáng tác mới. – Đến năm 1935 thắng thế nghiêng về nhóm thơ mới. => Giai đoạn mang tính tư tưởng. * Giai đoạn 1936 -1939 – Đội ngũ sáng tác Thơ Mới ngày càng hùng hậu. Đặc biệt có những tên tuổi xuất sắc như Xuân Diệu nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới, Hàn Mặc Tử nhà thơ lạ nhất trong các nhà thơ mới – Các nhà thơ trong giai đoạn này chú trọng thay đổi về mặt nội dung và cả nghệ thuật. * Giai đoạn 1939 -1945 – Thơ Mới chiếm ưu thế và có vị trí vững chắc trong nền văn học Việt Nam. – Khái niệm “cái tôi” đã trở nên phổ biến. – Phát triển thành nhiều khuynh hướng khác nhau. Xác hợp nhiều phong cách nghệ thuật. Cùng đi tìm hiểu chi tiết về quá trình hình và phát triển thơ mới qua nội dung bài viết dưới đây nhé I. Hoàn cảnh lịch sử xã hội. Một trào lưu văn học ra đời bao giờ cũng phản ánh những đòi hỏi nhất định của lịch sử xã hội. Bởi nó là tiếng nói, là nhu cầu thẩm mỹ của một giai cấp, tầng lớp người trong xã hội. Thơ mới là tiếng nói của giai cấp tư sản và tiểu tư sản. Sự xuất hiện của hai giai cấp này với những tư tưởng tình cảm mới, những thị hiếu thẩm mỹ mới cùng với sự giao lưu văn học Đông Tây là nguyên nhân chính dẫn đến sự ra đời của Phong trào thơ mới 1932-1945. Giai cấp tư sản đã tỏ ra hèn yếu ngay từ khi ra đời. Vừa mới hình thành, các nhà tư sản dân tộc bị bọn đế quốc chèn ép nên sớm bị phá sản và phân hóa, một bộ phận đi theo chủ nghĩa cải lương. So với giai cấp tư sản, giai cấp tiểu tư sản giàu tinh thần dân tộc và yêu nước hơn. Tuy không tham gia chống Pháp và không đi theo con đường cách mạng nhưng họ sáng tác văn chương cũng là cách để giữ vững nhân cách của mình. Cùng với sự ra đời của hai giai cấp trên là sự xuất hiện tầng lớp trí thức Tây học. Đây là nhân vật trung tâm trong đời sống văn học lúc bấy giờ. Thông qua tầng lớp này mà sự ảnh hưởng của các luồng tư tưởng văn hoá, văn học phương Tây càng thấm sâu vào ý thức của người sáng tác. II. Các thời kì phát triển của thơ mới Theo ông Phan Cư ệ có thể chia phong trào thơ mới ra 2 thời kỳ giai đoạn 1932-1939 và giai đoạn 1940-1945. Còn giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam thì chia làm 3 thời kỳ, chia như thế có lẽ hợp lý hơn. 1. Giai đoạn 1932-1935 Đây là giai đoạn diễn ra cuộc đấu tranh giữa Thơ mới và “Thơ cũ”. Sau bài khởi xướng của Phan Khôi, một loạt các nhà thơ như Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Huy Thông, Vũ Đình Liên liên tiếp công kích thơ Đường luật, hô hào bỏ niêm, luật, đối, bỏ điển tích, sáo ngữ … Trong bài “Một cuộc cải cách về thơ ca” Lưu Trọng Lư kêu gọi các nhà thơ mau chóng “đem những ỷ tưởng mới, những tình cảm mới thay vào những ý tưởng cũ, những tình cảm cũ”. Cuộc đấu tranh này diễn ra khá gay gắt bởi phía đại diện cho “Thơ cũ” cũng tỏ ra không thua kém. Các nhà thơ Tản Đà, Huỳnh Thúc Kháng, Hoàng Duy Từ, Nguyễn Văn Hanh phản đối chống lại Thơ mới một cách quyết liệt. Cho đến cuối năm 1935, cuộc đấu tranh này tạm lắng và sự thắng thế nghiêng về phía Thơ mới. Ở giai đoạn đầu, Thế Lữ là nhà thơ tiêu biểu nhất của Phong trào thơ mới với tập Mấy vần thơ 1935. Ngoài ra còn có sự góp mặt các nhà thơ Lưu Trọng Lư, Nguyễn Nhược Pháp, Vũ Đình Liên, … 2. Giai đoạn 1936-1939 Đây là giai đoạn Thơ mới chiếm ưu thế tuyệt đối so với “Thơ cũ” trên nhiều bình diện, nhất là về mặt thể loại. Giai đọạn này xuất hiện nhiều tên tuổi lớn như Xuân Diệu tập Thơ thơ -1938, Hàn Mặc Tử Gái quê -1936, Đau thương -1937, Chế Lan Viên Điêu tàn – 1937, Bích Khuê Tinh huyết – 1939, … Đặc biệt sự góp mặt của Xuân Diệu, nhà thơ ’mới nhất trong các nhà thơ mới”, vừa mới bước vào làng thơ “đã đuợc người ta dành cho một chỗ ngồi yên ổn”3. Xuân Diệu chính là nhà thơ tiêu biểu nhất của giai đoạn này. Vào cuối giai đoạn xuất hiện sự phân hóa và hình thành một số khuynh hướng sáng tác khác nhau. Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này được giải thích bàng sự khẳng định của cái Tôi. Cái Tôi mang màu sắc cá nhân đậm nét đã mang đến những phong cách nghệ thuật khác nhau cả về thi pháp lẫn tư duy nghệ thuật. Và khi cái Tôi rút đến sợi tơ cuối cùng thì cũng là lúc các nhà thơ mới đã chọn cho mình một cách thoát ly riêng. 3. Giai đoạn 1940-1945 Từ năm 1940 trở đi xuất hiện nhiều khuynh hướng, tiêu biểu là nhóm Dạ Đài gồm Vũ Hoàng Chương, Trần Dần, Đinh Hùng …; nhóm Xuân Thu Nhã Tập có Nguyễn Xuân Sanh, Đoàn Phú Tứ, Nguyễn Đỗ Cung …; nhóm Trường thơ Loạn có Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Bích Khê,… Có thể nói các khuynh hướng thoát ly ở giai đọan này đã chi phối sâu sắc cảm hứng thẩm mỹ và tư duy nghệ thuật trong sáng tác của các nhà thơ mới. Giai cấp tiểu tư sản thành thị và một bộ phận trí thức đã không giữ được tư tưởng độc lập đã tự phát chạy theo giai cấp tư sản. Với thân phận của người dân mất nước và bị chế độ xã hội thực dân o ép, họ như kẻ đứng ngã ba đường, sẵn sàng đón nhận những luồng gió khác nhau thổi tới. Bên cạnh đó, một bộ phận các nhà thơ mới mất phương hướng, rơi vào bế tắc, không lối thoát. III. Những mặt tích cực, tiến bộ của Phong trào thơ mới Đánh giá Phong trào thơ mới, nhà thơ Xuân Diệu nhận định “Thơ mới là một hiện tượng văn học đã có những đóng góp vào văn mạch của dân tộc”… “ Trong phần tốt của nó, Thơ mới có một lòng yêu đời, yêu thiên nhiên đất nước, yêu tiếng nói của dân tộc”. Nhà thơ Huy Cận cũng cho rằng “Dòng chủ lưu của Thơ mới vẫn là nhân bản chủ nghĩa”… “Các nhà thơ mới đều giàu lòng yêu nước, yêu quê hương đất nước Việt Nam. Đất nước và con người được tái hiện trong Thơ mới một cách đậm đà đằm thắm” mới mang tinh thần dân tộc sâu sắc Thơ mới luôn ấp ủ một tinh thần dân tộc, một lòng khao khát tự do. Ở thòi kỳ đầu, tinh thần dân tộc ấy là tiếng vọng lại xa xôi của phong trào cách mạng từ 1925-1931 mà chủ yếu là phong trào Duy Tân của Phan Bội Châu và cuộc khởi nghĩa Yên Bái. Nhà thơ Thế Lữ luôn mơ ước được Tung hoành hống hách những ngày xưa” Nhớ rừng; Huy Thông thì khát khao “Muốn uống vào trong buồng phổi vô cùng Tất cả ánh sáng dưới gầm trời lồng lộng”. Tinh thần dân tộc của các nhà thơ mới gửi gắm vào lòng yêu tiếng Việt. Nghe tiếng rư của mẹ, nhà thơ Huy Cận cảm nhận được “hèn thiêng đất nước” trong từng câu ca “Nằm trong tiếng nói yêu thương Nằm trong tiếng Việt vấn vương một đời”. Có thể nói, các nhà thơ mới đã có nhiều đóng góp, làm cho tiếng Việt không ngày càng trong sáng và giàu có hơn. Ở giai đoạn cuối, tinh thần dân tộc chỉ còn phảng phất với nỗi buồn đau của người nghệ sĩ không được tự do Độc hành ca, Chiều mưa xứ Bắc của Tràn Huyền Trân, Tống biệt hành, Can trường hành của Thâm Tâm … mới mang tâm sự yêu nước thiết tha Có thể nói, tinh thần dân tộc là một động lực tinh thần để giúp các nhà thơ mới ấp ủ lòng yêu nước. Quê hương đất nước thân thương đã trở thành cảm hứng trong nhiều bài thơ. Đó là hình ảnh Chùa Hương trong thơ Nguyễn Nhược Pháp Em đi Chùa Hương; hình ảnh làng sơn cước vùng Hương Sơn Hà Tĩnh trong thơ Huy Cận Đẹp xưa; hình ảnh làng chài nơi cửa biển quê hương trong thơ Tế Hanh Quê hương Các thi sĩ đã mang đến cho thơ cái hương vị đậm đà của làng quê, cái không khí mộc mạc quen thuộc của ca dao Nguyễn Bính, Đoàn Văn Cừ, Bàng Bá Lân, Anh Thơ, … Hình ảnh thôn Đoài, thôn Đông, mái đình, gốc đa, bến nước, giậu mồng tơi, cổng làng nắng mai, mái nhà tranh đã gợi lên sắc màu quê hương bình dị, đáng yêu trong tâm hồn mỗi người Việt Nam yêu nước. Bên cạnh những mặt tích cực và tiến bộ nói trên, Phong trào thơ mới còn bộc lộ một vài hạn chế. Một số khuynh hướng ở thời kỳ cuối rơi vào bế tắc, không tìm được lối ra, thậm chí thoát ly một cách tiêu cực. Điều đó đã tác động không tốt đến một bộ phận các nhà thơ mới trong quá trình “nhận đường” những năm đầu sau cách mạng tháng Tám. Đăng bởi THPT Trịnh Hoài Đức Chuyên mục Lớp 11, Ngữ Văn 11
Tài liệu gồm 23 trang tổng hợp và phân tích các tác phẩm thơ mới trong chương trình Ngữ Văn 11 HK2, tài liệu được biên soạn bởi tác giả Chí Bằng. Tài liệu giúp bạn đọc nắm lại các kiến thức về tác giả, tác phẩm, phân tích nội dung và ý nghĩa của các tác phẩm thơ mới. Tài liệu là đề cương hữu ích để các em học sinh ôn tập chuẩn bị cho kỳ thi HK2 Ngữ Văn dung tài liệu Đây thôn Vĩ Dạ Hàn Mặc Tử 1. Bức tranh thôn Vĩ buổi bình minh 2. Bức tranh sông nước đêm trăng 3. Bức tranh sương khói mờ ảo cỏi mộng 4. Thái độ của nhà thơ qua 3 câu hỏi tu từ Từ ấy Tố Hữu 1. Niềm vui sướng của chàng thanh niên khi bắt gặp lý tưởng sống của cuộc đời mình 2. Nhận thức mới về lẽ sống 3. Những chuyển biến sâu sắc trong tình cảm của Tố Hữu Tràng Giang Huy Cận Chiều tối Chủ tịch Hồ Chí Minh 1. Bức tranh thiên nhiên chiều tà 2. Bức tranh đời sống con người Vội vàng Xuân Diệu[ads]
Phong Trào Thơ Mới ❤️️ Các Tác Giả + Những Bài Thơ Tiêu Biểu ✅ Chia Sẻ Các Thông Tin Về Tác Giả Và Tác Phẩm Nổi Tiếng Của Phong Trào Thơ Mới. Phong Trào Thơ Mới Là Gì Phong Trào Thơ Mới Ra Đời Vào Năm Nào Nội Dung Phong Trào Thơ Mới Các Giai Đoạn Của Phong Trào Thơ Mới Phong Trào Thơ Mới 1930 Đến 1945Phong Trào Thơ Mới 1932 Đến 1945 Phong Trào Thơ Mới Gồm Những Ai Các Tác Giả Thơ Mới Tiêu Biểu Nhà thơ Xuân DiệuNhà thơ Huy CậnNhà thơ Hàn Mặc TửNhận Định Về Phong Trào Thơ Mới Ảnh Hưởng Của Phong Trào Thơ Mới Phong Trào Thơ Mới Như Một Vườn HoaNhững Bài Thơ Trong Phong Trào Thơ Mới Tiêu Biểu Phong Trào Thơ Mới Của Hàn Mặc TửPhong Trào Thơ Mới Mùa Xuân Chín Phong Trào Thơ Mới Là Gì? Đây là cách gọi trào lưu sáng tác thơ phi cổ điển, chịu ảnh hưởng của biện pháp tu từ, gieo vần từ thơ ca hiện đại phương Tây. Phong trào thơ mới đã trở thành một hiện tượng trong khu vực các nước đồng văn châu Á, thơ mới ra đời phát triển dựa trên yêu cầu cấp thiết hiện đại hóa thơ truyền thống. Phong trào thơ mới chính thức xuất hiện vào những năm 20 của thế kỷ XX. Các nhà thơ theo phong trào này thường có xu hướng “đoạn tuyệt” với thể thơ cũ vốn hạn chế cả về nội dung và hình thức. Đây được coi là cuộc cách mạng “giải phóng” thơ ca khỏi những ràng buộc lỗi thời. Dưới đây là một số đặc điểm cơ bản của phong trào thơ mới Triệt để thoát khỏi những quy tắc chặt chẽ về trắc, vần của các thể thơ truyền thống, đồng thời có sự xuất hiện và phát triển của thơ tự do, thơ không vần, thơ bậc thang. … Số câu không còn bị hạn chế như các thể thơ truyền thống. Ngôn ngữ đời thường trong đời sống hàng ngày được nâng lên thành ngôn ngữ nghệ thuật trong thơ ca, không còn cấu trúc như sử dụng điển tích văn học. Nội dung Thơ mới đa dạng, phức tạp và không bị bó buộc trong các chủ đề cổ điển về gió và tuyết. Chịu ảnh hưởng của các khuynh hướng và khuôn khổ hiện đại trong thơ ca phương Tây như chủ nghĩa tượng trưng, lãng mạn, duy mỹ, ấn tượng, duy hiện đại, Đón đọc chùm 😍Thơ Tình Xuân Diệu Hay Nhất 😍 Tuyển Tập 50+ Bài Nổi Tiếng Phong Trào Thơ Mới Ra Đời Vào Năm Nào Phong Trào Thơ Mới Bắt Đầu Từ Năm Nào? Cùng ngược dòng thời gian tìm hiểu về khoảng thời gian mà dòng thơ mới xuất hiện trên thi đàn Việt Nam ngay sau đây. Phong Trào Thơ Mới Xuất Hiện Khi Nào? Đầu những năm 1930, “Văn hoá Việt Nam” diễn ra một phong trào cách tân thơ ca mạnh mẽ với sự xuất hiện của một làn sóng thơ mới với một cá tính sáng tác độc đáo. Cuộc vận động cổ vũ việc sử dụng các thể thơ mới, không theo vần, luật của các thể thơ cổ. Cuộc đổi mới này đã đi vào lịch sử văn học và được gọi là Phong trào Thơ Mới. Nội Dung Phong Trào Thơ Mới Nội Dung Phong Trào Thơ Mới rất đa dạng, không bị ràng buộc bởi các nội dung như các thể thơ cũ trước đó. Phong trào thơ mới ghi lại cảm xúc chân thực của chủ thể trước cách mạng. Cảm xúc ám ảnh trong thơ là cảm giác cô đơn, xa lạ của con người. Cô đơn cả trong tình yêu lẫn trong tâm hồn. Thơ mới thể hiện những cảm xúc đối lập giữa tâm hồn và ngoại cảnh. Vì vậy, phong trào thơ mới đã hình thành một khát vọng đó là khát vọng giải thoát, khát vọng thoát ly hiện thực. Ngoài ra, thơ mới còn thể hiện tình yêu cuộc sống tha thiết thể hiện qua niềm khao khát tình yêu, hạnh phúc và khát vọng lên đường. Những vần thơ mang đậm tính dân tộc thể hiện nỗi lòng của người dân Việt Nam trước thời nước mất nhà tan. Có thể nói, tinh thần dân tộc chính là động lực giúp các nhà thơ mới ấp ủ lòng yêu nước và khát vọng độc lập, tự do. Bật mí cho bạn chùm 💌 Thơ Về Tuổi Trẻ Của Xuân Diệu 💌 nổi tiếng Các Giai Đoạn Của Phong Trào Thơ Mới Thơ mới được chia thành mấy giai đoạn? Xem ngay phần chia sẻ thông tin về Các Giai Đoạn Của Phong Trào Thơ Mới dưới đây của để biết chi tiết nhé! Thơ mới được chia thành 3 giai đoạn chính như sau Giai đoạn 1932 – 1935 Đây là thời kỳ đánh dấu sự chớm nở của thơ mới, với sự đấu tranh gay gắt giữa hai trường phái thơ. Sau bài khởi xướng của Phan Khôi, hàng loạt các nhà thơ như Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Huy Thông, Vũ Đình Liên liên tục công kích thơ Đường luật, hô hào bỏ niêm, luật, tương phản, bài trừ kinh điển, khuôn sáo. . … Mở đầu, Thế Lữ là nhà thơ tiêu biểu nhất của phong trào Thơ mới với tập Mấy vần thơ 1935. Ngoài ra còn có các nhà thơ Lưu Trọng Lư, Nguyễn Nhược Pháp, Vũ Đình Liên Giai đoạn 1936 – 1939 Đây là thời kỳ thơ mới chiếm ưu thế hơn thơ cũ về nhiều mặt, đặc biệt là thể loại. Giai đoạn này có nhiều tên tuổi lớn như Xuân Diệu Tập thơ và thơ 1938, Hàn Mặc Tử Cô Gái Quê 1936, Đau Thương – 1937, Bích Khuê Hồn Máu – 1939, Chế Lan Viên Diệu Ruân – 1937,… Đặc biệt với sự góp mặt của Xuân Diệu – nhà thơ “mới nhất trong các nhà thờ mới” Thơ mới phát triển mạnh mẽ với hàng loạt tác giả tên tuổi, thể hiện tài năng nghệ thuật độc đáo cũng như sự trỗi dậy của cái tôi cá nhân ở giai đoạn này. Các nhà thơ mới được tự do bộc lộ trọn vẹn cảm xúc của mình. Giai đoạn 1940 – 1945 Ở giai đoạn này, thơ mới xuất hiện với nhiều khuynh hướng khác nhau, nhưng về cơ bản vẫn giữ những nét đặc trưng giai đoạn đầu. Các nhà thơ thời kỳ này xuất hiện một số bộ phận đề cao tính giải trí, hưởng thụ trong thời loạn lạc. Tiểu tư sản thành thị và một số trí thức không giữ được tư tưởng độc lập nên đi theo giai cấp tư sản. Với thân phận của những người dân mất nước, bị xã hội thực dân áp bức, họ đã đứng lên sẵn sàng đón nhận những luồng gió khác nhau đang thổi qua. Phong Trào Thơ Mới 1930 Đến 1945 Thơ mới đã manh nha phát triển từ những năm 1930, tuy nhiên đến năm 1932 mới thực sự được cho là bắt đầu. Phong trào thơ mới 1930-1945 là một hiện tượng văn học phong phú nhưng khá phức tạp, phong trào thơ mới lúc này đã tạo nên “một thời đại trong thi ca”, một sự cách tân văn học diễn ra rất gay gắt và quyết liệt. Mời bạn xem thêm💙 Thơ Về Mùa Xuân Của Xuân Diệu 💙 bất hủ Phong Trào Thơ Mới 1932 Đến 1945 Khuynh hướng chung của Thơ Mới những năm 1932-1945 là khuynh hướng lãng mạn, là lý tưởng thẩm mỹ của cái “tôi” tác giả, thẩm mỹ hóa cuộc sống nhơ nhuốc, rách rưới của một xã hội nửa thuộc địa nửa phong kiến và là tâm trạng buồn bã, u uất, lạc lõng giữa cuộc đời. Thơ Mới luôn ấp ủ một tinh thần dân tộc, một niềm khao khát tự do. Lúc đầu, tinh thần dân tộc ấy là tiếng vọng lại xa xôi của phong trào cách mạng 1925-1931 chủ yếu là phong trào Duy Tân của Phan Bội Châu và khởi nghĩa Yên Bái. Có thể nhận định rằng, tinh thần dân tộc là động lực tinh thần giúp các nhà thơ mới ấp ủ lòng yêu nước. Quê hương thân yêu đã trở thành nguồn cảm hứng trong các bài thơ giai đoạn này, đó là hình ảnh Chùa Hương trong bài thơ Em Đi Chùa Hương của Nguyễn Nhược Pháp; hình ảnh xóm núi vùng Hương Sơn Hà Tĩnh trong thơ Huy Cận Đẹp xưa; hình ảnh làng chài nơi cửa biển quê hương trong bài thơ Quê hương của Tế Hanh,…. Các thi sĩ đã mang đến cho thơ mới một hương vị đậm đà của làng quê, cái không khí mộc mạc quen thuộc của ca dao Nguyễn Bính, Đoàn Văn Cừ, Bàng Bá Lân, Anh Thơ,…. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực và tiến bộ thì Phong trào Thơ mới cũng bộc lộ một số hạn chế. Một số trào lưu trong giai đoạn muộn rơi vào bế tắc, không tìm được lối thoát, thậm chí thoát ra một cách tiêu cực. Điều đó đã tác động xấu đến một bộ phận các nhà thơ mới trong quá trình “nhận đường” những năm đầu sau cách mạng tháng Tám. Phong Trào Thơ Mới Gồm Những Ai Phong Trào Thơ Mới Có Những Ai? Giai đoạn thơ mới này đã tạo nên nhiều nhà thơ nổi tiếng, đó là những cái tên sau đây Thế Lữ Nhớ rừng, Cây đàn muôn điệu… Xuân Diệu Vội vàng, Nguyệt cầm, Lời kỹ nữ… Huy Cận Ngậm ngùi, Tràng giang… Lưu Trọng Lư Tiếng thu,… Hàn Mặc Tử Đây thôn Vĩ Dạ, Mùa xuân chín… Nam Trân Đẹp và Thơ – Cô gái Kim Luông… Chế Lan Viên Thu,… Phạm Huy Thông Tiếng địch sông Ô Vũ Đình Liên Ông đồ… Nguyễn Nhược Pháp Chùa Hương… Tế Hanh Quê Hương… Nguyễn Bính Mưa xuân… Đoàn Phú Tứ Màu thời gian… Thâm Tâm Tống biệt hành… Vũ Hoàng Chương Say đi em… Xem thêm chùm thơ mới❣️ Thơ Về Hoàng Hôn Của Xuân Diệu ❣️ Hay nhất Các Tác Giả Thơ Mới Tiêu Biểu Phong Trào Thơ Mới Tác Giả nổi tiếng rất nhiều, tuy nhiên nếu phải chọn ra Các Tác Giả Thơ Mới Tiêu Biểu nhất thì không thể nào không nhắc đến bộ ba Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Huy Cận. Nhà thơ Xuân Diệu Xuân Diệu 1916 – 1985 là nhà thơ tiêu biểu nhất của phong trào thơ mới và là một trong những cây bút lớn của nền văn học Việt Nam hiện đại. Có thể nói ông là một trái tim lớn, một nguồn tình cảm yêu đời, yêu cuộc sống trần thế một cách mãnh liệt đến say mê cuồng nhiệt. Với mong muốn đồng cảm trọn vẹn với cuộc sống trần gian này, lẽ tự nhiên, Xuân Diệu cũng là nhà thơ của tình yêu, bởi tình yêu là sự giao cảm trần thế, mãnh liệt nhất. Đây là thứ tình yêu luôn đòi hỏi cao độ “vô biên và tuyệt đích”… Người ta đã phong cho Xuân Diệu danh hiệu nhà thơ tình số một, “ông hoàng thơ tình”. Một số bài thơ nổi tiếng của Xuân Diệu Vội vàng, Yêu, Dại khờ, Biển, Lời kỹ nữ,… Nhà thơ Huy Cận Xuất hiện ở giai đoạn toàn thịnh của Thơ mới, Huy Cận trở thành nhà thơ đi đầu góp phần đưa Thơ mới phát triển đến đỉnh cao. Huy Cận góp một giọng thơ riêng, một phong cách thơ độc đáo. Nhắc đến Huy Cận, người ta nhớ đến một nhà thơ của một vũ trụ bao la đầy ắp những nỗi niềm. Ông là nhà thơ nói rõ nhất nỗi sầu tiêu biểu của Thơ Mới. Một số bài thơ nổi tiếng của Huy Cận Đoàn thuyền đánh cá, Tràng Giang, Ngậm ngùi, Con chim chiền chiện, Áo trắng,… Nhà thơ Hàn Mặc Tử Hàn Mặc Tử bắt đầu con đường thơ ca với thơ Đường, tuy nhiên sau đó ông nhanh chóng say mê Thơ mới. Ông đã khẳng định vị trí đặc biệt của mình trong phong trào Thơ mới một hiện tượng thơ lạ lùng nhất của phong trào Thơ mới. Thơ của Hàn Mặc Tử phức tạp và đầy bí ẩn với sự đan xen chặt chẽ của cả những gì trong sáng nhất, thiêng liêng nhất, thậm chí cả những gì rùng rợn, ma quái và cuồng loạn nhất. Thế giới nghệ thuật của ông chao đảo giữa Thực và Siêu thực, Ý thức và Vô thức. Đây là một nét đặc sắc của thơ Hàn Mặc Tử. Một số bài thơ nổi tiếng của Hàn Mặc Tử Mùa xuân chín, Đây thôn Vĩ Dạ, Trút linh hồn, Trăng vàng trăng ngọc, Rướm máu,… Nhận Định Về Phong Trào Thơ Mới Khi nhắc đến Thơ mới ta có thể nhận định bằng các đặc điểm chính như sau Thơ mới thể hiện rõ cái “tôi” cá nhân của các nhà thơ một cách rõ ràng. Cái “tôi” trong Thơ Mới mang bản chất tinh tươm, tinh tường và to lớn muốn hòa mình vào đại dương, muốn xô đi những con sóng của cả dòng sông không ngừng nghỉ. Khi “cái tôi” vừa được khám phá, nó đã mang đến cho chúng ta nhiều giá trị mới. Nó tiêu biểu cho sự đổi mới của thơ đối với đời sống và lý trí. Cái “tôi” trong Thơ Mới xuất hiện gắn với từng lớp thị dân, gắn với nền văn minh công nghiệp vừa là sản phẩm, vừa là chủ thể của nền văn hóa mới. Các nhà thơ mới ý thức khẳng định mình là một thực thể duy nhất không lặp lại. Ngay từ khi ra đời, Thơ Mới đã đổi mới cảm xúc, tạo nên một cảm xúc mới trước cuộc đời, trước thiên nhiên, vũ trụ. Cảm hứng về thiên nhiên và tình yêu đã tạo nên diện mạo riêng cho Thơ Mới. Đó là vẻ đẹp tươi mới, đầy hương vị, âm thanh, tràn đầy sức sống. Có thể khẳng định rằng Thơ mới là một bước phát triển quan trọng trong tiến trình hiện đại hóa nền văn học nước nhà những năm đầu thế kỉ XX với những cuộc cách tân nghệ thuật sâu sắc. Không thể bỏ qua 🌺 Bài Thơ Về Mùa Thu Của Xuân Diệu 🌺trong chùm thơ mới hay đặc sắc Ảnh Hưởng Của Phong Trào Thơ Mới Ảnh Hưởng Của Phong Trào Thơ Mới đến thơ hiện đại trữ tình Việt Nam là rất lớn. Đã hơn 90 năm đã trôi qua, cuộc cách mạng mà Thơ Mới mang lại cho thơ Việt Nam vẫn là câu chuyện đáng bàn. Lịch sử tiếp nhận đầy thăng trầm của Thơ Mới đã chứng minh điều này. Thơ mới đã tạo ra một quan niệm thơ mới, một hệ hình thức thơ mới với thể thơ mới, chủ đề thơ mới, kết cấu mới, cảm xúc mới, ngôn ngữ mới, câu thơ mới, biểu tượng mới, phong cách mới, hệ thống vần mới. Vì vậy cho đến hiện nay, Thơ mới vẫn còn âm hưởng khá rộng rãi với thơ trữ tình Việt Nam. Nhiều nhà thơ đương đại vẫn bị Thơ mới lôi cuốn, làm cho sáng tạo thơ đương đại mang dáng dấp của một vệt Thơ mới trường tồn. Điều đó cho thấy sức sống của Thơ Mới lâu bền trong kho tàng thơ ca Việt Nam. Phong Trào Thơ Mới Như Một Vườn Hoa Phong Trào Thơ Mới Như Một Vườn Hoa, làm nên một thời thơ ca rực rỡ trong lịch sử văn học Việt Nam. Thơ Mới bao gồm nhiều trường phái và hầu như mỗi nhà thơ đều có một phong cách riêng, trong đó có thể nhắc đến nhà thơ Lưu Trọng Lư. Dưới đây là một số bài thơ nổi bật của ông. Tiếng Thu Em không nghe mùa thuDưới trăng mờ thổn thức?Em không nghe rạo rựcHình ảnh kẻ chinh phuTrong lòng người cô phụ? Em không nghe rừng thuLá thu kêu xào xạcCon nai vàng ngơ ngácĐạp trên lá vàng khô? Nắng MớiTặng hương hồn Thầy Me Mỗi lần nắng mới hắt bên xác gà trưa gáy não nùng;Lòng rượi buồn theo thời dĩ vãng,Chập chờn sống lại những ngày không. Tôi nhớ Me tôi thuở thiếu thời,Lúc Người còn sống, tôi lên mười;Mỗi lần nắng mới reo ngoài nội,Áo đỏ Người đưa trước giậu phơi. Hình dáng Me tôi chửa xoá mờHãy còn mường tượng lúc vào raNét cười đen nhánh sau tay áoTrong ánh trưa hè, trước giậu thưa. Đan Áo Ngày tháng em đan chiếc áo len,Hững hờ để lạnh với tình đông đến tự hôm nào nhỉ?Lá rụng bay đầy dưới mái hiên. Gió thổi hôm nay lá rụng nhiều,Cây em đan hộ tấm tình yêuĐể về mang ủ lòng anh lạnh,Cho khoảng đêm trường đỡ quạnh hiu. Một Chút Tình Chửa biết tên nàng biết tuổi nàngMà sầu trong dạ đã mang yêu như bóng trăng hiu quạnh,Lạnh lẽo đêm trường dãi gió sương. Ta chỉ xin em một chút tìnhCho lòng thắm lại với ngày em quên cả khi chào đónTình ái, chiều xuân đến trước mành? Rộn rã cười vang một góc lầu,Ngây thơ em đã biết gì đâu?Đêm khuya trăng động trong cây lá,Vò võ ta se mấy đoạn sầu, Lác đác ngày xuân rụng trước thềm,Lạnh lùng ta dõi bước chân em,Âm thầm ấp mối xa xa vọngĐường thế đâu tìm bóng áo xiêm? Đợi đến luân hồi sẽ gặp nhau,Cùng em nhắc lại chuyện xưa anh dưới gốc sim già nhá!Em hái đưa anh đoá mộng đầu. Thơ Sầu Rụng Vừng trăng từ độ lên ngôi,Năm năm bến cũ em ngồi quay tóc vướng vần thơ sầu rụng,Mái tóc buồn thơ cũng buồn năm tiếng lụa xe đều…Những ngày lạnh rớt, gió vèo trong cây. Nhẹ bàn tay, nhẹ bàn tay,Mùi hương hàng xóm bay đầy mái nghiêng mái tóc hương nồng,Thời gian lặng rớt một dòng buồn tênh. Cập nhật các bài 🌱Thơ 7 Chữ Hay 🌱Thơ Bảy Chữ Hay Những Bài Thơ Trong Phong Trào Thơ Mới Tiêu Biểu Đâu là Những Bài Thơ Trong Phong Trào Thơ Mới Tiêu Biểu? Xem ngay phần chia sẻ sau đây để biết nhé! Nhớ rừngTác giả Thế Lữ Gậm một khối căm hờn trong cũi sắt,Ta nằm dài, trông ngày tháng dần qua,Khinh lũ người kia ngạo mạn, ngẩn ngơ,Giương mắt bé diễu oai linh rừng thẳm,Nay sa cơ, bị nhục nhằn tù hãm,Để làm trò lạ mắt, thứ đồ ngang bầy cùng bọn gấu dở hơi,Với cặp báo chuồng bên vô tư sống mãi trong tình thương nỗi nhớ,Thủa tung hoành hống hách những ngày cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già,Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi,Với khi thét khúc trường ca dữ dội,Ta bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng,Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng,Vờn bóng âm thầm, lá gai, cỏ hang tối, mắt thần khi đã quắc,Là khiến cho mọi vật đều im biết ta chúa tể cả muôn loài,Giữa chốn thảo hoa không tên, không đâu những đêm vàng bên bờ suối,Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan?Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn,Ta lặng ngắm giang sơn ta đổi mới?Đâu những bình minh cây xanh nắng gội,Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng?Đâu những chiều lênh láng máu sau đợi chết mảnh mặt trời gay gắt,Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật?– Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?Nay ta ôm niềm uất hận ngàn thâu,Ghét những cảnh không đời nào thay đổi,Những cảnh sửa sang, tầm thường, giả dốiHoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng;Dải nước đen giả suối, chẳng thông dòngLen dưới nách những mô gò thấp kém;Dăm vừng lá hiền lành, không bí hiểm,Cũng học đòi bắt chước vẻ hoang vuCủa chốn ngàn năm cao cả, âm oai linh, cảnh nước non hùng vĩ!Là nơi giống hầm thiêng ta ngự thênh thang ta vùng vẫy ngày xưa,Nơi ta không còn được thấy bao giờ!Có biết chăng trong những ngày ngao ngán,Ta đương theo giấc mộng ngàn to lớnĐể hồn ta phảng phất được gần ngươi,– Hỡi cảnh rừng ghê gớm của ta ơi! Vội vàngTác giả Xuân Diệu Tôi muốn tắt nắng điCho màu đừng nhạt mất;Tôi muốn buộc gió lạiCho hương đừng bay đi. Của ong bướm này đây tuần tháng mật;Này đây hoa của đồng nội xanh rì;Này đây lá của cành tơ phơ phất;Của yến anh này đây khúc tình si;Và này đây ánh sáng chớp hàng mi,Mỗi sáng sớm, thần Vui hằng gõ cửa;Tháng giêng ngon như một cặp môi gần;Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửaTôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân. Xuân đang tới, nghĩa là xuân đang qua,Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già,Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật,Không cho dài thời trẻ của nhân gian;Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lạiCòn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi,Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời;Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi,Khắp sông, núi vẫn than thầm tiễn biệt….Con gió xinh thì thào trong lá biếc,Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi ?Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi,Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa ?Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa… Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm,Ta muốn ômCả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiềuVà non nước, và cây, và cỏ rạng,Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sángCho no nê thanh sắc của thời tươi;– Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi! Tràng GiangTác giả Huy Cận Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,Con thuyền xuôi mái nước song về nước lại, sầu trăm ngả;Củi một cành khô lạc mấy dòng. Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,Đâu tiếng làng xa vãn chợ xuống, trời lên sâu chót vót;Sông dài, trời rộng, bến cô liêu. Bèo giạt về đâu, hàng nối hàng;Mênh mông không một chuyến đò cầu gợi chút niềm thân mật,Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng. Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều quê dợn dợn vời con nước,Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà. Một mùa đôngTác giả Lưu Trọng Lư Đôi mắt em lặng buồnNhìn thôi mà chẳng nói,Tình đôi ta vời vợiCó nói cũng không cùng. Yêu hết một mùa đôngKhông một lần đã nói,Nhìn nhau buồn vời vợiCó nói cũng không cùng. Trời hết một mùa đôngGió bên thềm thổi mãi,Qua rồi mùa ân áiĐàn sếu đã sang sông. Em ngồi trong song cửaAnh đứng dựa tường hoa,Nhìn nhau mà lệ ứa,Một ngày một cách xa. Đây là dải Ngân Hà,Anh là chim Ô ThướcSẽ bắc cầu nguyện ướcMột đêm một lần qua. Để mặc anh đau khổ,Ái ân giờ tận số,Khép chặt đôi cánh song!Khép cả một tấm lòng! Quê hươngTác giả Tế Hanh Làng tôi ở vốn làm nghề chài lướiNước bao vây cách biển nửa ngày trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng,Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mãPhăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường buồm trương, to như mảnh hồn làngRướn thân trắng bao la thâu góp gió… Ngày hôm sau, ồn ào trên bến đỗKhắp dân làng tấp nập đón ghe về.“Nhờ ơn trời, biển lặng cá đầy ghe”,Những con cá tươi ngon thân bạc trắng. Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng,Cả thân hình nồng thở vị xa xăm;Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằmNghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ. Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớMàu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi,Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi,Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá! Mưa XuânTác giả Nguyễn Bính Em là con gái trong khung cửiDệt lụa quanh năm với mẹ trẻ còn như cây lụa trắng,Mẹ già chưa bán chợ làng xa. Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay,Hoa xoan lớp lớp rụng vơi chèo làng Đặng đi ngang ngõ,Mẹ bảo Thôn Đoài hát tối nay. Lòng thấy giăng tơ một mối ngừng thoi lại giữa tay như hai má em bừng đỏ,Có lẽ là em nghĩ đến anh. Bốn bên hàng xóm đã lên đèn,Em ngửa bàn tay trước mái thấm bàn tay từng chấm lạnh,Thế nào anh ấy chẳng sang xem. Em xin phép mẹ vội vàng đi,Mẹ bảo xem về kể mẹ nhỏ nên em không ướt áo,Thôn Đoài cách có một thôi đê. Thôn Đoài vào đám hát thâu đêm,Em mải tìm anh chả thiết hẳn đêm nay đường cửi lạnh,Thoi ngà nằm nhớ ngón tay em. Chờ mãi anh sang anh chả sang,Thế mà hôm nọ hát bên tao bảy tuyết anh hò hẹn,Để cả mùa xuân cũng bẽ bàng. Mình em lầm lụi trên đường về,Có ngắn gì đâu môt dải đê!Áo mỏng che đầu, mưa nặng hạt,Lạnh lùng em tủi với đêm khuya. Em giận hờn anh cho đến sáng,Hôm sau mẹ hỏi hát trò gì.“- Thưa u họ hát…” Rồi em thấyNước mắt tràn ra, em ngoảnh đi. Bữa ấy mưa xuân đã ngại bay,Hoa xoan đã nát dưới chân chèo làng Đặng về ngang ngõ,Mẹ bảo mùa xuân đã cạn ngày. Anh ạ! Mùa xuân đã cạn ngày!Bao giờ em mới gặp anh đây?Bao giờ Hội Đặng đi ngang ngõ,Để mẹ em rằng hát tối nay? Ông đồTác giả Vũ Đình Liên Mỗi năm hoa đào nởLại thấy ông đồ giàBày mực Tàu, giấy đỏBên phố đông người qua Bao nhiêu người thuê viếtTấm tắc ngợi khen tài“Hoa tay thảo những nétNhư phượng múa, rồng bay” Nhưng mỗi năm mỗi vắngNgười thuê viết nay đâu?Giấy đỏ buồn không thắmMực đọng trong nghiên sầu… Ông đồ vẫn ngồi đấyQua đường không ai hayLá vàng rơi trên giấyNgoài trời mưa bụi bay Năm nay đào lại nởKhông thấy ông đồ xưaNhững người muôn năm cũHồn ở đâu bây giờ? Phong Trào Thơ Mới Của Hàn Mặc Tử Phong Trào Thơ Mới Hàn Mặc Tử rất nổi tiếng trong giai đoạn bấy giờ. Hàn Mặc Tử là một hiện tượng thơ lạ, đi đầu trong phong trào Thơ Mới. Đọc thơ của ông, ta bắt gặp một tâm hồn thiết tha yêu đời, yêu thiên nhiên, yêu con người đến khát khao, cháy bỏng; khát vọng sống mãnh liệt đến đau đớn tột cùng. Dưới đây là các bài thơ nổi tiếng của ông. Đây thôn Vĩ Dạ Sao anh không về chơi thôn Vĩ?Nhìn nắng hàng cau nắng mới ai mướt quá xanh như ngọcLá trúc che ngang mặt chữ điền. Gió theo lối gió, mây đường mây,Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay…Thuyền ai đậu bến sông Trăng đó,Có chở trăng về kịp tối nay? Mơ khách đường xa, khách đường xaÁo em trắng quá nhìn không ra…Ở đây sương khói mờ nhân ảnhAi biết tình ai có đậm đà? Trút linh hồn Máu đã khô rồi, thơ cũng khôTình ta chết yểu tự bao giờTừ nay trong gió – trong mưa gióLời thảm thương rền khắp nẻo mơ Ta còn trìu mến biết bao ngườiVẻ đẹp xa hoa của một thờiĐầy lệ, đầy thương, đầy tuyệt vọngÔi! Giờ hấp hối sắp chia phôi. Ta trút linh hồn giữa lúc đâyGió sầu vô hạn nuối trong cây– Còn em sao chẳng hay gì cả ?Xin để tang anh đến vạn ngày. Rướm máu Ta muốn hồn trào ra đầu ngọn bútMỗi lời thơ đều dính não cân taBao nét chữ quay cuồng như máu vọtNhư mê man chết điếng cả làn da. Cứ để ta ngất ngư trong vũng huyếtTrải niềm đau trên mảnh giấy mong manh,Đừng nắm lại nguồn thơ ta đang siếtCả lòng ta trong mớ chữ rung rinh. Ta đã ngậm hương trăng đầy lỗ miệngCho ngây người mê dại đến tâm canThét chòm sao hoảng rơi vào đáy giếngMà muôn năm rướm máu trong không gian. Hồn là ai Hồn là ai là ai? Tôi không biếtHồn theo tôi như muốn cợt chơi tôiMôi đầy hương tôi không dám ngậm cườiHồn vội mớm cho tôi bao ánh sángTôi chết giả và no nê vô vạnCười như điên, sặc sụa cả mùi trăngÁo tôi là một thứ ngợp hơn vàngHồn đã cấu, đã cào, nhai ngấu nghiếnThịt da tôi sương sần và tê điếngTôi đau vì rùng rợn đến vô biênTôi dìm hồn xuống một vũng trăng emCho trăng ngập trăng dồn lên tới ngựcHai chúng tôi lặng yên trong thổn thứcRồi bay lên cho tới một hành tinhCùng ngả nghiên lăn lộn giữa muôn hìnhĐể gào thét một hơi cho rởn ốcCả thiên đường trần gian và địa ngục Hồn là ai? Là ai? Tôi không hayDẫn hồn đi ròng rã một đêm nayHồn mê mệt lả mà tôi thì chết giấc. Trăng vàng trăng ngọc Trăng! Trăng! Trăng! Là Trăng, Trăng Trăng!Ai mua trăng tôi bán trăng choKhông bán đoàn viên, ước hẹn hò…Bao giờ đậu trạng vinh quy đãAnh lại đây tôi thối chữ thơ. Không, Không, Không! Tôi chẳng bán hồn giả đò chơi, anh tưởng rằngTôi nói thiệt, là anh dại quáTrăng Vàng Trăng Ngọc bán sao đang. Trăng! Trăng! Trăng! Là Trăng, Trăng, Trăng!Trăng sáng trăng sáng khắp mọi nơiTôi đang cầu nguyện cho trăng tôiTôi lần cho trăng một tràng chuỗiTrăng mới là Trăng của Rạng NgờiTrăng! Trăng! Trăng! Là Trăng, Trăng, Trăng! Tuyển tập 🍃Thơ Điên Hàn Mặc Tử, Bùi Giáng 🍃Những Tập Thơ Hay Nhất Phong Trào Thơ Mới Mùa Xuân Chín Cuối cùng là bài thơ Mùa xuân chín nổi tiếng của nhà thơ Hàn Mặc Tử trong phong trào Thơ mới. Mùa xuân chínTác giả Hàn Mặc Tử Trong làn nắng ửng khói mơ tan,Đôi mái nhà tranh lấm tấm soạt gió trêu tà áo biếc,Trên giàn thiên lý – Bóng xuân sang. Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trờiBao cô thôn nữ hát trên đồi;– Ngày mai trong đám xuân xanh ấy,Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi. Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi,Hổn hển như lời của nước mây,Thầm thì với ai ngồi dưới trúc,Nghe ra ý vị và thơ ngây. Khách xa gặp lúc mùa xuân chín,Cảnh trí bâng khuâng sực nhớ làng– “Chị ấy, năm nay còn gánh thócDọc bờ sông trắng nắng chang chang?” Xem thêm tuyển tập chùm🌸 Thơ 8 Chữ 🌸Về Tình Bạn, Cuộc Sống
Phong trào thơ mới 1932 – 1945 Mời các bạn học sinh tham khảo thêm Thế nào là đoạn văn Diễn dịch – Quy nạp Trong những năm đầu thập kỷ thứ ba của thế kỷ trước xuất hiện một dòng thơ ca thuộc khuynh hướng lãng mạn. Đó là Thơ mới hay còn gọi là Thơ mới lãng mạn. Thơ mới là một cuộc cách mạng thơ ca trong tiến trình lịch sử văn học dân tộc ở thế kỷ 20. Sự xuất hiện của Thơ mới gắn liền với sự ra đời của Phong trào thơ mới 1932-1945. Phong trào thơ mới đã mở ra “một thời đại trong thi ca” 1, mở đầu cho sự phát triển của thơ ca Việt Nam hiện đại. I- Hoàn cảnh lịch sử xã hội. Một trào lưu văn học ra đời bao giờ cũng phản ánh những đòi hỏi nhất định của lịch sử xã hội. Bởi nó là tiếng nói, là nhu cầu thẩm mỹ của một giai cấp, tầng lớp người trong xã hội. Thơ mới là tiếng nói của giai cấp tư sản và tiểu tư sản. Sự xuất hiện của hai giai cấp này với những tư tưởng tình cảm mới, những thị hiếu thẩm mỹ mới cùng với sự giao lưu văn học Đông Tây là nguyên nhân chính dẫn đến sự ra đời của Phong trào thơ mới 1932-1945. Giai cấp tư sản đã tỏ ra hèn yếu ngay từ khi ra đời. Vừa mới hình thành, các nhà tư sản dân tộc bị bọn đế quốc chèn ép nên sớm bị phá sản và phân hóa, một bộ phận đi theo chủ nghĩa cải lương. So với giai cấp tư sản, giai cấp tiểu tư sản giàu tinh thần dân tộc và yêu nước hơn. Tuy không tham gia chống Pháp và không đi theo con đường cách mạng nhưng họ sáng tác văn chương cũng là cách để giữ vững nhân cách của mình. Cùng với sự ra đời của hai giai cấp trên là sự xuất hiện tầng lớp trí thức Tây học. Đây là nhân vật trung tâm trong đời sống văn học lúc bấy giờ. Thông qua tầng lớp này mà sự ảnh hưởng của các luồng tư tưởng văn hoá, văn học phương Tây càng thấm sâu vào ý thức của người sáng tác. Phong trào thơ mới 1932 – 1945 II- Các thời kỳ phát triển của Phong trào thơ mới . Thơ mới được thai nghén từ trước 1932 và thi sĩ Tản Đà chính là người dạo bản nhạc đầu tiên trong bản hòa tấu của Phong trào thơ mới. Tản Đà chính là “gạch nối” của hai thời đại thơ ca Việt Nam, được Hoài Thanh – Hoài Chân xếp đầu tiên trong số 46 tên tuổi lớn của Phong trào thơ mới. Và đến ngày 10-3-1932 khi Phan Khôi cho đăng bài thơ “Tình già” trên Phụ nữ tân văn số 22 cùng với bài tự giới thiệu “Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ” thì phát súng lệnh của Phong trào thơ mới chính thức bắt đầu. Có thể phân chia các thời kỳ phát triển của Phong trào thơ mới thành ba giai đọan2 1- Giai đoạn 1932-1935 Đây là giai đoạn diễn ra cuộc đấu tranh giữa Thơ mới và “Thơ cũ”. Sau bài khởi xướng của Phan Khôi, một loạt các nhà thơ như Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Huy Thông, Vũ Đình Liên liên tiếp công kích thơ Đường luật, hô hào bỏ niêm, luật, đối, bỏ điển tích, sáo ngữ …Trong bài “Một cuộc cải cách về thơ ca” Lưu Trọng Lư kêu gọi các nhà thơ mau chóng “đem những ý tưởng mới, những tình cảm mới thay vào những ý tưởng cũ, những tình cảm cũ”. Cuộc đấu tranh này diễn ra khá gay gắt bởi phía đại diện cho “Thơ cũ” cũng tỏ ra không thua kém. Các nhà thơ Tản Đà, Huỳnh Thúc Kháng, Hoàng Duy Từ, Nguyễn Văn Hanh phản đối chống lại Thơ mới một cách quyết liệt. Cho đến cuối năm 1935, cuộc đấu tranh này tạm lắng và sự thắng thế nghiêng về phía Thơ mới. Ở giai đoạn đầu, Thế Lữ là nhà thơ tiêu biểu nhất của Phong trào thơ mới với tậpMấy vần thơ 1935. Ngoài ra còn có sự góp mặt các nhà thơ Lưu Trọng Lư, Nguyễn Nhược Pháp, Vũ Đình Liên … 2- Giai đoạn 1936-1939 Đây là giai đoạn Thơ mới chiếm ưu thế tuyệt đối so với “Thơ cũ” trên nhiều bình diện, nhất là về mặt thể loại. Giai đọan này xuất hiện nhiều tên tuổi lớn như Xuân Diệu tậpThơ thơ -1938, Hàn Mặc Tử Gái quê -1936, Đau thương -1937, Chế Lan Viên Điêu tàn – 1937, Bích Khuê Tinh huyết – 1939, … Đặc biệt sự góp mặt của Xuân Diệu, nhà thơ “mới nhất trong các nhà thơ mới”, vừa mới bước vào làng thơ “đã được người ta dành cho một chỗ ngồi yên ổn”3 . Xuân Diệu chính là nhà thơ tiêu biểu nhất của giai đoạn này. Vào cuối giai đoạn xuất hiện sự phân hóa và hình thành một số khuynh hướng sáng tác khác nhau. Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này được giải thích bằng sự khẳng định của cái Tôi. Cái Tôi mang màu sắc cá nhân đậm nét đã mang đến những phong cách nghệ thuật khác nhau cả về thi pháp lẫn tư duy nghệ thuật. Và khi cái Tôi rút đến sợi tơ cuối cùng thì cũng là lúc các nhà thơ mới đã chọn cho mình một cách thoát ly riêng. 3- Giai đoạn 1940-1945 Từ năm 1940 trở đi xuất hiện nhiều khuynh hướng, tiêu biểu là nhóm Dạ Đài gồm Vũ Hoàng Chương, Trần Dần, Đinh Hùng …; nhóm Xuân Thu Nhã Tập có Nguyễn Xuân Sanh, Đoàn Phú Tứ, Nguyễn Đỗ Cung …; nhóm Trường thơ Loạn có Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Bích Khê,… Có thể nói các khuynh hướng thoát ly ở giai đọan này đã chi phối sâu sắc cảm hứng thẩm mỹ và tư duy nghệ thuật trong sáng tác của các nhà thơ mới. Giai cấp tiểu tư sản thành thị và một bộ phận trí thức đã không giữ được tư tưởng độc lập đã tự phát chạy theo giai cấp tư sản. Với thân phận của người dân mất nước và bị chế độ xã hội thực dân o ép, họ như kẻ đứng ngã ba đường, sẵn sàng đón nhận những luồng gió khác nhau thổi tới. Bên cạnh đó, một bộ phận các nhà thơ mới mất phương hướng, rơi vào bế tắc, không lối thoát. III- Những mặt tích cực, tiến bộ của Phong trào thơ mới Đánh giá Phong trào thơ mới, nhà thơ Xuân Diệu nhận địnhh “Thơ mới là một hiện tượng văn học đã có những đóng góp vào văn mạch của dân tộc”… “ Trong phần tốt của nó, Thơ mới có một lòng yêu đời, yêu thiên nhiên đất nước, yêu tiếng nói của dân tộc”. Nhà thơ Huy Cận cũng cho rằng “Dòng chủ lưu của Thơ mới vẫn là nhân bản chủ nghĩa”… “Các nhà thơ mới đều giàu lòng yêu nước, yêu quê hương đất nước Việt Nam. Đất nước và con người được tái hiện trong Thơ mới một cách đậm đà đằm thắm”4. 1- Tinh thần dân tộc sâu sắc Thơ mới luôn ấp ủ một tinh thần dân tộc, một lòng khao khát tự do. Ở thời kỳ đầu, tinh thần dân tộc ấy là tiếng vọng lại xa xôi của phong trào cách mạng từ 1925-1931 mà chủ yếu là phong trào Duy Tân của Phan Bội Châu và cuộc khởi nghĩa Yên Bái. Nhà thơ Thế Lữ luôn mơ ước được “tung hoành hống hách những ngày xưa” Nhớ rừng; Huy Thông thì khát khao “Muốn uống vào trong buồng phổi vô cùng Tất cả ánh sáng dưới gầm trời lồng lộng”. Tinh thần dân tộc của các nhà thơ mới gửi gắm vào lòng yêu tiếng Việt. Nghe tiếng ru của mẹ, nhà thơ Huy Cận cảm nhận được “hồn thiêng đất nước” trong từng câu ca “Nằm trong tiếng nói yêu thương Nằm trong tiếng Việt vấn vương một đời”. Có thể nói, các nhà thơ mới đã có nhiều đóng góp, làm cho tiếng Việt không ngày càng trong sáng và giàu có hơn. Ở giai đoạn cuối, tinh thần dân tộc chỉ còn phảng phất với nỗi buồn đau của ngưòi nghệ sĩ không được tự do Độc hành ca, Chiều mưa xứ Bắc của Trần Huyền Trân, Tống biệt hành, Can trường hành của Thâm Tâm … 2- Tâm sự yêu nước thiết tha Có thể nói, tinh thần dân tộc là một động lực tinh thần để giúp các nhà thơ mới ấp ủ lòng yêu nước. Quê hương đất nước thân thương đã trở thành cảm hứng trong nhiều bài thơ. Đó là hình ảnh Chùa Hương trong thơ Nguyễn Nhược Pháp Em đi Chùa Hương; hình ảnh làng sơn cước vùng Hương Sơn Hà Tĩnh trong thơ Huy Cận Đẹp xưa; hình ảnh làng chài nơi cửa biển quê hương trong thơ Tế Hanh Quê hương Các thi sĩ đã mang đến cho thơ cái hương vị đậm đà của làng quê, cái không khí mộc mạc quen thuộc của ca dao Nguyễn Bính, Đoàn Văn Cừ, Bàng Bá Lân, Anh Thơ, … Hình ảnh thôn Đoài, thôn Đông, mái đình, gốc đa, bến nước, giậu mồng tơi, cổng làng nắng mai, mái nhà tranh đã gợi lên sắc màu quê hương bình dị, đáng yêu trong tâm hồn mỗi người Việt Nam yêu nước. Bên cạnh những mặt tích cực và tiến bộ nói trên, Phong trào thơ mới còn bộc lộ một vài hạn chế. Một số khuynh hướng ở thời kỳ cuối rơi vào bế tắc, không tìm được lối ra, thậm chí thoát ly một cách tiêu cực. Điều đó đã tác động không tốt đến một bộ phận các nhà thơ mới trong quá trình “nhận đường” những năm đầu sau cách mạng tháng Tám. IV- Đặc điểm nổi bật của Phong trào thơ mới 1. Sự khẳng định cái Tôi Nền văn học trung đại trong khuôn khổ chế độ phong kiến chủ yếu là một nền văn học phi ngã. Sự cựa quậy, bứt phá tìm đến bản ngã đã ít nhiều xuất hiện trong thơ Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ,… Đến Phong trào thơ mới, cái Tôi ra đời đòi được giải phóng cá nhân, thoát khỏi luân lí lễ giáo phong kiến chính là sự tiếp nối và đề cao cái bản ngã đã được khẳng định trước đó. Đó là một sự lựa chọn khuynh hướng thẩm mỹ và tư duy nghệ thuật mới của các nhà thơ mới. Ý thức về cái Tôi đã đem đến một sự đa dạng phong phú trong cách biểu hiện. Cái Tôi với tư cách là một bản thể, một đối tượng nhận thức và phản ánh của thơ ca đã xuất hiện như một tất yếu văn học. Đó là con người cá tính, con người bản năng chứ không phải con người ý thức nghĩa vụ, giờ đây nó đàng hoàng bước ra “trình làng” chữ dùng của Phan Khôi. Xuân Diệu, nhà thơ tiêu biểu của Phong trào thơ mới lên tiếng trước – “Tôi là con chim đến từ núi lạ …” “Tôi là con nai bị chiều đánh lưới”… Có khi đại từ nhân xưng “tôi” chuyển thành “anh” “Anh nhớ tiếng, anh nhớ hình, anh nhớ ảnh Anh nhớ em, anh nhớ lắm em ơi!” Thoảng hoặc có khi lại là “Ta” “Ta là Một, là Riêng là Thứ Nhất Không có chi bè bạn nổi cùng ta”. “ Thơ mới là thơ của cái Tôi”5. Thơ mới đề cao cái Tôi như một sự cố gắng cuối cùng để khẳng định bản ngã của mình và mong được đóng góp vào “văn mạch dân tộc”, mở đường cho sự phát triển của thi ca Việt Nam hiện đại. 2 . Nỗi buồn cô đơn Trong bài “Về cái buồn trong Thơ mới”, Hoài Chân cho rằng “Đúng là Thơ mới buồn, buồn nhiều”, “Cái buồn của Thơ mới không phải là cái buồn ủy mị, bạc nhược mà là cái buồn của những người có tâm huyết, đau buồn vì bị bế tắc chưa tìm thấy lối ra”6. Cái Tôi trong Thơ mới trốn vào nhiều nẻo đường khác nhau, ở đâu cũng thấy buồn và cô đơn. Nỗi buồn cô đơn tràn ngập trong cảm thức về Tiếng thu với hình ảnh “Con nai vàng ngơ ngác Đạp trên lá vàng khô”. Lưu Trọng Lư . Với Chế Lan Viên đó là “Nỗi buồn thương nhớ tiếc dân Hời” tức dân Chàm “Đường về thu trước xa xăm lắm Mà kẻ đi về chỉ một tôi” Nghe một tiếng gà gáy bên sông, Lưu Trọng Lư cảm nhận được nỗi buồn “Xao xác gà trưa gáy não nùng” còn Xuân Diệu lại thấy “Tiếng gà gáy buồn nghe như máu ứa”. Về điều này, Hoài Chân cho rằng “Xuân Diệu phải là người buồn nhiều, đau buồn nhiều mới viết được những câu thơ nhức xương như “Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối / Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm”. Nỗi buồn cô đơn là cảm hứng của chủ nghĩa lãng mạn. Với các nhà thơ mới, nỗi buồn ấy còn là cách giải thoát tâm hồn, là niềm mong ước được trải lòng với đời và với chính mình. 3. Cảm hứng về thiên nhiên và tình yêu Ngay từ khi ra đời, “Thơ mới đã đổi mới cảm xúc, đã tạo ra một cảm xúc mới trước cuộc đời và trước thiên nhiên, vũ trụ”7. Cảm hứng về thiên nhiên và tình yêu đã tạo nên bộ mặt riêng cho Thơ mới. Đó là vẻ đẹp tươi mới, đầy hương sắc, âm thanh, tràn trề sự sống. Đây là cảnh mưa xuân trong thơ Nguyễn Bính “Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay Hoa xoan lớp lớp rụng rơi đầy”. Và đây là hình ảnh buổi trưa hè “Buổi trưa hè nhè nhẹ trong ca dao Có cu gáy và bướm vàng nữa chứ” Huy Cận. Trong thơ Chế Lan Viên có không ít những hình ảnh như “Bướm vàng nhè nhẹ bay ngang bóng Những khóm tre cao rủ trước thành” tất cả gợi lên hình ảnh quê hương bình dị, thân thuộc với mỗi người Việt Nam. Những cung bậc của tình yêu đã làm thăng hoa cảm xúc các nhà thơ mới. “Ông hoàng của thơ tình” Xuân Diệu bộc bạch một cách hồn nhiên “Tôi khờ khạo lắm, ngu ngơ quá Chỉ biết yêu thôi chẳng biết gì”. Chu Văn Sơn cho rằng “Xuân Diệu coi tình yêu như một tôn giáo” nhưng là một “thứ tôn giáo lãng mạn, tôn giáo nghệ sĩ”8. Khác với Xuân Diệu, nhà thơ Chế Lan Viên cảm nhận thân phận bằng nỗi cô đơn sầu não “Với tôi tất cả như vô nghĩa Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau”. Cảm xúc ấy không phải là một ngoại lệ. Nhà thơ Huy Cận cho rằng “Cái đẹp bao giờ cũng buồn” Kinh cầu tự và cảm nhận được sự tận cùng của nỗi buồn cô đơn “sầu chi lắm, trời ơi, chiều tận thế”. Nhà thơ triết lý về điều này một cách sâu sắc “Chân hết đường thì lòng cũng hết yêu”. 4. Một số đặc sắc về nghệ thuật Thơ mới là một bước phát triển quan trọng trong tiến trình hiện đại hóa nền văn học nước nhà những năm đầu thế kỉ XX với những cuộc cách tân nghệ thuật sâu sắc. Về thể loại, ban đầu Thơ mới phá phách một cách phóng túng nhưng dần dần trở về với các thể thơ truyền thống quen thuộc như thơ ngũ ngôn, thất ngôn, thơ lục bát. Các bài thơ ngũ ngôn có Tiếng thu Lưu Trọng Lư, Ông Đồ Vũ Đình Liên, Em đi chùa Hương Nguyễn Nhược Pháp… Các nhà thơ Huy Cận, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, chủ yếu viết theo thể thơ thất ngôn, còn Nguyễn Bính, Thế Lữ lại dùng thể thơ lục bát Cách hiệp vần trong Thơ mới rất phong phú, ít sử dụng một vần độc vận mà dùng nhiều vần như trong thơ cổ phong trường thiên vần ôm, vần lưng, vần chân, vần liên tiếp, vần gián cách hoặc không theo một trật tự nhất định “Tiếng địch thổi đâu đây Cớ sao nghe réo rắt Lơ lửng cao đưa tận chân trời xanh ngắt Mây bay… gió quyến, mây bay Tiếng vi cút như khoan như dìu dặt Như hắt hiu cùng hơi gió heo may” Thế Lữ. Sự kết hợp giữa vần và thanh điệu tạo nên cho Thơ mới một nhạc điệu riêng. Đây là những câu thơ toàn thanh bằng “Sương nương theo trăng ngừng lưng trời Tương tư nâng lòng lên chơi vơi” Xuân Diệu hay “Ô hay! Buồn vương cây ngô đồng Vàng rơi! Vàng rơi! Thu mênh mông” Bích Khê Ngoài việc sử dụng âm nhạc, Thơ mới còn vận dụng cách ngắt nhịp một cách linh hoạt “Thu lạnh / càng thêm nguyệt tỏ ngời Đàn ghê như nước / lạnh / trời ơi!” Xuân Diệu Ở một phương diện khác, cuộc cách tân về ngôn ngữ Thơ mới diễn ra khá rầm rộ. Thoát khỏi tính quy phạm chặt chẽ và hệ thống ước lệ dày đặc của “Thơ cũ”, Thơ mới mang đến cho người đọc một thế giới nghệ thuật giàu giá trị tạo hình và gợi cảm sâu sắc “Con đường nhỏ nhỏ, gió xiêu xiêu Lả lả cành hoang nắng trở chiều” Xuân Diệu hay “Mưa đổ bụi êm êm trên bến vắng Đò biếng lười nằm mặc dưới sông trôi” Anh Thơ Sự phong phú về thể loại, vần và nhạc điệu cùng với tính hình tượng, cảm xúc của ngôn ngữ đã tạo nên một phong cách diễn đạt tinh tế, bằng cảm giác, bằng màu sắc hội họa của thơ mới. Đây là bức tranh “Mùa xuân chín” được Hàn Mặc Tử cảm nhận qua màu sắc và âm thanh “Trong làn nắng ửng, khói mơ tan Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng Sột soạt gió trêu tà áo biếc Trên dàn thiên lý. Bóng xuân sang”. 5. Sự ảnh hưởng của thơ Đường và thơ ca lãng mạn Pháp. Thơ mới ảnh hưởng thơ Đường khá đậm nét. Sự gặp gỡ giữa thơ Đường và Thơ mới chủ yếu ở thi tài, thi đề. Các nhà thơ mới chỉ tiếp thu và giữ lại những mặt tích cực, tiến bộ của thơ Đường trong các sáng tác của Đỗ Phủ, Lý Bạch, Bạch Cư Dị,… Trong bàiTràng giang, Huy Cận mượn tứ thơ của Thôi Hiệu để bày tỏ lòng yêu nước “Lòng quê dợn dợn vời con nước Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”. Nếu sự ảnh hưởng thơ Đường làm cho thơ tiếng Việt càng phong phú giàu có thêm, tinh tế hơn thì sự ảnh hưởng thơ ca lãng mạn Pháp góp phần cho Thơ mới sáng tạo về thi hứng, bút pháp và cách diễn đạt mới lạ, độc đáo. Một trong những nhà thơ đầu tiên chịu ảnh hưởng sâu sắc thơ Pháp là Thế Lữ, Huy Thông, về sau là Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử,…Hầu hết các nhà thơ mới chịu ảnh hưởng khá sâu sắc chủ nghĩa tượng trưng của thơ ca lãng mạn Pháp mà đại biểu là Budelaire, Verlaine, Rimbaud. Sự ảnh hưởng ấy diễn ra trên nhiều bình diện từ cách gieo vần, ngắt nhịp đến cách diễn đạt. Ta có thể tìm thấy điều này ở các bài Nguyệt Cầm, Đây mùa thu tới Xuân Diệu, Đi giữa đường thơm Huy Cận, Màu thời gian Đoàn Phú Tứ. Một số bài thơ trong tập Tinh huyết Bích Khê,Thơ điên Hàn Mặc Tử, Thơ say Vũ Hoàng Chương chịu ảnh hưởng sâu sắc trường phái suy đồi của thơ ca Pháp các bài thơ Những nguyên âm của Rimbaud, Tương hợp của Budelaire …. Trong bài “Thơ mới-cuộc nổi loạn ngôn từ” Đỗ Đức Hiểu nêu nhận xét về hệ thống ngôn từ Thơ mới “Thơ mới là bản hòa âm của hai nền văn hóa xa nhau vời vợi, là bản giao hưởng cổ và hiện đại”9. Đó là sự giao thoa tiếng Việt với thơ Đường và thơ ca lãng mạn Pháp thế kỷ XIX. Sự ảnh hưởng thơ Đường và thơ ca lãng mạn Pháp đối với Phong trào thơ mới không tách rời nhau. Điều này cho thấy tác động và ảnh hưởng từ nhiều phía đối với Thơ mới là một tất yếu trong quá trình hiện đại hóa thơ ca. Chính sự kết hợp Đông -Tây nói trên đã tạo nên bản sắc dân tộc và sức hấp dẫn riêng của Thơ mới. Sau 75 năm, kể từ khi ra đời cho đến nay, Phong trào thơ mới đã có chỗ đứng vững chắc trong đời sống văn học dân tộc. Qua thời gian, những giá trị tốt đẹp của Phong trào thơ mới Việt Nam 1932-1945 càng được thử thách và có sức sống lâu bền trong lòng các thế hệ người đọc. ————————————— CHÚ THÍCH 1- Một thời đại trong thi ca Thi nhân Việt Nam, Hòai Thanh-Hoài Chân, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1993, trang 15 2- Trong cuốn Văn học lãng mạn Việt Nam 1930-1945 NXB Giáo dục, 2002, Phan Cự Đệ chia làm 2 giai đoạn 1932-1939 và 1940-1945 3- Thi nhân Việt Nam Sđd, trang 106 4- Về Thơ mới Huy Cận, Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thơ ca, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2003, trang 12 5- Thơ mới, những bước thăng trầm Lê Đình Kỵ, NXB TP. Hồ Chí Minh, 1993, trang 46 6- Về cái buồn trong Thơ mới Hoài Chân, Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thơ ca, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2003, trang 23 7- Về Thơ mới Huy Cận, Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thơ ca, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2003, trang 9 8- Ba đỉnh cao Thơ mới Chu Văn Sơn- NXB Giáo dục, Hà Nội, 2003, trang 24. 9- Thơ mới, cuộc nổi loạn của ngôn từ Đỗ Đức Hiểu, Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thơ ca, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2003, trang 142. Biên soạn PMT Chuyên BL
phong trào thơ mới lớp 11